Mấy chất vấn gửi ông Đinh Đức Lập, Tổng Biên tập báo Đại Đoàn Kết

23:25 |
Huỳnh Kim Báu

(Nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức yêu nước TP HCM)

Ảnh chụp tù báo Đại Đoàn Kết

Đọc bài “Sự thật đằng sau bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp trên một số trang mạng: Sự ngụy tạo có chủ đích!”, tôi rất ngạc nhiên về nhận định của “Nhóm phóng viên Thời sự - Chính trị”, căn cứ vào “kết quả” của cuộc “điều tra” do các tác giả thực hiện ở Hà Tĩnh, cho rằng “đa số tên người dân ký tên trên bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 hiện đang phát tán trên một số trang mạng là giả mạo” vì “Tại sao lại có nhiều bà con nông dân Hà Tĩnh ký tên trên mạng như vậy, trong khi nhiều người còn mơ hồ về internet” và vì “Người nông dân quanh năm vất vả lo làm ăn, họ lấy đâu ra thời gian mà lướt web, để ký tên kiến nghị những điều mà bản thân họ không hiểu”. Nhóm tác giả còn “trăn trở và tự hỏi”: “Vì sao họ lại kiến nghị những điều mà họ thừa biết sẽ làm rối loạn đất nước? Liệu có phải nhiều người dân bất bình với Đảng, Nhà nước đến vậy, khi mà Đảng, Nhà nước luôn chăm lo cho đời sống của họ ngày càng ấm no, hạnh phúc hơn?”.

Xin ông Tổng Biên tập Đinh Đức Lập giải thích những thắc mắc của tôi.

1/ Về công lao của Đảng Cộng sản lèo lái con tàu quốc gia đem lại tự do, cơm no áo ấm cho Dân tộc Việt Nam, tôi hỏi ông các quốc gia trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Malaysia,... có thịnh vượng, giàu có và tự do hạnh phúc hơn Việt Nam không? Các quốc gia đó có Đảng Cộng sản cầm quyền hay không?

2/ Chủ xướng Kiến nghị 72 là những trí thức tiêu biểu, nếu muốn sử dụng thủ thuật ngụy tạo chữ ký của nông dân, chắc chắc quí vị đó không ai ngây thơ tập trung danh sách ngụy tạo ở tại một địa phương Hà Tĩnh.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2011 tỉnh Hà Tĩnh có 1.229.300 người. Theo bài báo, “tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng internet chỉ chiếm 20-30% trên toàn địa bàn tỉnh”, nghĩa là khoảng 245.000–368.000 người. Còn nếu hiểu 20-30% ở đây không phải là đối với số dân nói chung của toàn tỉnh, mà chỉ là đối với tổng số người dân nông thôn Hà Tĩnh mà thôi, thì số người ở nông thôn sử dụng internet cũng vào khoảng 170.000-250.000 với giả định dân nông thôn ở Hà Tĩnh chiếm 70% dân cư trong tỉnh. Danh sách những người ký kiến nghị cho đến nay là gần 9.000 người. Cho dù cả 9000 người này đều là người Hà Tĩnh, thì vẫn còn thua xa con số hàng trăm ngàn như đã phân tích ở trên. Đó là chưa kể người ký tên không nhất thiết phải tự mình truy cập internet! Như thế, lập luận của “nhóm phóng viên Thời sự - Chính trị” đã tự mâu thuẫn!

3/ Trong thời gian qua có nhiều người ký tên trong bản kiến nghị phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam, về thực thi quyền con người, về việc trả tự do cho Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, đã bị nhân viên an ninh răn đe, khủng bố với nhiều hình thức. Do đó việc không công bố trên mạng địa chỉ cụ thể của những người ký tên sau danh sách 72, là nhằm bảo vệ an ninh cho các công dân đã tham gia ký tên trong bản kiến nghị, thiết tưởng là điều dễ hiểu. Việc trang mạng Bauxite Việt Nam yêu cầu người ký tên “ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, chức danh (nếu có) và địa chỉ”, không có nghĩa là phải nhất thiết công bố tất cả thông tin đó. Các tác giả bài báo trên không thể vin vào đó để đi đến kết luận hàm hồ rằng: “Như vậy có thể thấy, ngay việc đưa tên người ký đơn kiến nghị sửa đổi Hiến pháp, những người chủ trang mạng này đã không tôn trọng chính tiêu chí mà họ đưa ra ban đầu”.

Nếu ông Tổng Biên tập Đinh Đức Lập không trả lời được mấy chất vấn trên, thì tôi buộc phải cho rằng tờ báo Đại Đoàn Kết đã được sử dụng để cùng với bộ máy an ninh răn đe, khủng bố những người ký kiến nghị 72.

© Huỳnh Kim Báu



Theo Bauxite Việt Nam
Read more…

Đa sở hữu đất đai: Tại sao không?

00:35 |
Nguyễn Vạn Phú

Những lập luận đằng sau sự khẳng định đất đai phải thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý hầu như vắng bóng. Không ai giải thích cho cặn kẽ vì sao không cho nông dân sở hữu mảnh đất họ đang canh tác.

Dường như sự “kiên định” này là do quán tính: hễ nói đến chủ nghĩa xã hội thì đất đai phải của tập thể như cách suy nghĩ ngày xưa, nông dân phải vào hợp tác xã mới đúng định hướng chứ không được làm ăn riêng lẻ.

Điều mỉa mai là những nguyên tắc mang tính giáo điều đó đã bị bỏ đi trong các lãnh vực khác, trừ đất đai. Doanh nghiệp tư nhân, kể cả nước ngoài được phép “bóc lột” thoải mái “giá trị thặng dư”, quy mô càng lớn càng được khuyến khích.

Đứng ở góc độ lý thuyết, hiện nay chúng ta đã thừa nhận một nền kinh tế đa sở hữu, trong đó chủ doanh nghiệp tư nhân được quyền sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân được cam kết bảo vệ quyền sở hữu tư liệu sản xuất của họ. Cách đây hai năm, tranh luận về chế độ công hữu các tư liệu sản xuất – điểm then chốt của chủ nghĩa xã hội - đã kết thúc với kết quả là khái niệm này đã được gác lại. Các doanh nghiệp nhà nước đang được cổ phần hóa, tức đa dạng hóa sở hữu, chứ đâu có khăng khăng nhà nước phải làm chủ.

Nay với nông dân, tại sao không thể mạnh dạn áp dụng một sự ứng xử tương tự - tức là công nhận người dân có quyền sở hữu đất đai – là tư liệu sản xuất chính của họ. Làm khác đi là không tạo ra sự công bằng, là tước bỏ của người nông dân cái quyền họ mơ ước bao giờ nay. Làm khác đi, có nghĩa chỉ áp dụng “định hướng xã hội chủ nghĩa” với nông dân, còn giới doanh nghiệp thì thôi khỏi? Hay nhìn ở góc ngược lại, xây dựng nền nông nghiệp mà đất đai không vận hành theo đúng quy luật thị trường thì, đến một ngưỡng nào đó, làm sao nông nghiệp phát triển tiếp tục.

Thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai dẫn đến một số lo ngại – vấn đề là những lo ngại này có cơ sở hay chỉ là lo ngại vô căn cứ?

Lo ngại đầu tiên là sở hữu tư nhân sẽ dẫn đến tích lũy ruộng đất, làm nảy sinh “tầng lớp địa chủ” mới. Cái vô căn cứ ở đây là ràng buộc hạn điền vẫn còn đó; thậm chí nếu sau này không còn hạn điền nữa, người nào muốn canh tác quy mô lớn, tại sao không khuyến khích? Điều đó khác gì một chủ doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn, tuyển hàng ngàn công nhân? Không lẽ một bên khuyến khích, một bên thì cấm?

Lo ngại thứ nhì là đất đai của tư nhân sẽ khó giải tỏa để làm các công trình công cộng hay đơn thuần là để phát triển các khu đô thị mới. Cái khó của việc giải tỏa sẽ tồn tại dù đất là thuộc quyền sử dụng hay quyền sở hữu của người dân. Vấn đề là chính sách công bằng, công trình thật sự cần thiết và quyền lợi của người có đất được tôn trọng thì không có gì khó khăn cả. Thật ra, để bảo vệ quyền lợi của người dân nghèo chỉ còn mảnh đất để canh tác thì càng khó giải tỏa đất càng tốt chứ sao. Để bất kỳ công trình nào cũng phải cân nhắc thiệt hơn chứ không làm đại, làm theo kiểu dự án treo, rồi đẩy người dân vào chỗ mất đất.

Ngược lại, cái lợi của một chế độ đa sở hữu sẽ rất nhiều: nông dân sẽ ứng xử với đất như người chủ chứ không như người thuê như hiện nay, năng suất ắt sẽ tăng, hiệu quả sử dụng đất sẽ được nâng cao. Ngày xưa chỉ cần mảnh đất 5% mà người dân đã có thể xoay xở vượt qua những năm tháng khó khăn của thời bao cấp; nay được sở hữu 100% thì người nông dân sẽ làm ra điều thần kỳ mới.

Quan trọng nhất, hiện tượng đau lòng khi những người dân bị tước mất đất, phải vác đơn đi khiếu kiện khắp nơi sẽ không còn nữa. Giới cường hào mới ở các địa phương không còn có thể dễ dàng vẽ ra dự án để tước đoạt đất của dân; giới làm ăn bất lương không thể cấu kết với giới có quyền lực để đuổi người dân ra khỏi ngôn nhà của họ. Đó mới gọi là đúng định hướng xã hội chủ nghĩa nếu hiểu khái niệm này theo nghĩa chính xác nhất của nó.

Bác Nguyễn Vạn Phú đặt câu hỏi tại sao những thứ giáo điều khác như "giá trị thặng dư" Đảng CSVN đều mạnh dạn từ bỏ, trong khi "sở hữu toàn dân" về đất đai lại vẫn giữ? Thực ra rất dễ trả lời câu hỏi này: Bỏ tư tưởng giáo điều này và giữ tư tưởng giáo điều kia đều do lợi ích của Đảng quyết định. Có bỏ "giá trị thặng dư" Đảng mới thu hút được đầu tư nước ngoài, mới đạt được con số tăng trưởng GDP ấn tượng. Giữ sở hữu đất đai toàn dân thì Đảng mới có thể tuỳ tiện tước đoạt đất đai của người dân với cái giá rẻ mạt. Cái nguồn lợi từ đất đai đối Đảng là đặc biệt quan trọng, nó chính là một trong những chất kết dính để Đảng không sụp đổ...

Theo blog Nguyễn Vạn Phú

Read more…

Một lần nữa tớ lại khẳng định: chú Trọng không hề lú!

06:58 |
Nhạc sĩ Tô Hải

Ngày 25 tháng 2 năm 2013

Còn nhớ khi chú ấy đi sang Cuba đọc các bài kinh về “khát vọng ngàn đời của nhân dân toàn thế giới” là chủ nghĩa của mấy anh Tây râu xồm, đầu hói mà chú ấy đã nhập tâm từ cái nước mà người ta đã vất tất cả bọn điên khùng này vào sọt rác của lịch sử đã cả gần 20 năm rồi: Liên Bang Xô Viết của ông tổ chú ấy “Vờ- là- đi- mịa- In lịch Lê- Nhịn”.

Chú muốn nhân dịp đứng trước cửa ngõ của kẻ thù ngàn đời Đế Quốc Mỹ, đối diện với bãi biển Maiami mà vỗ ngực thét lên:

1- Thế giới còn ta, còn các “đồng chí hướng” 4 tốt Tầu hùng mạnh đây! Đế Quốc Mỹ chúng mày đừng tưởng bở!

2- Vực dậy mấy tên xã hội giả vờ hoặc.. hết hơi và tuyên truyền cho một vài nước Nam Mỹ nên noi gương lão Cha-vét “trùm dân túy” giả danh cách mạng!

3- Lần ấy, chú ấy đã không hề quên những bài kinh ưu việt của cái chủ nghĩa chưa ai nhìn thấy bao giờ nhưng được ghi trong sách giáo khoa Mác-Lê và bằng những dẫn chứng “hơn hẳn” láo khoét và phét lác trắng trợn về mọi mặt kinh tế,đời sống của cái “lước Việt Lam hạnh phúc gấp vạn lần các nước tư bản do mấy chú ấy nãnh đạo!”

Và tớ đã có một bài: “Đừng đánh giá thấp anh Trọng như thế!”

Tới khi chú ấy và 13 anh chị khác phịa ra cái nghị quyết 4, ra cái đều “Có sai, có sâu, có cả đàn sâu đấy nhưng…..sau khi “HỌC” (?) xong cái nghị quyết này và uống thuốc “phê và tự phê” rồi thì “Đảng ta” của các chú ấy sẽ lấy lại lòng tin của dân và thoát khỏi cái nguy cơ …mạng vong mà chính chú ấy tự nhận xét chứ chẳng phải ai khác!

Đặc biệt là sau cái hội nghị gọi là “Hội Nghị cán bộ toàn quốc” để chú ấy phổ biến và quán triệt “nghị quyết 4 không phải là nơi để hạ bệ, đấu đá nhau” và khi chú ấy đã dành gần hết thời gian họp có 1 ngày để chỉ nói về 10 chữ TỰ thì mình đã lập tức đã có bài phân tích là “KHÔNG CÓ GÌ MÃI MÃI SẼ LÀ….KHÔNG CÓ GÌ”

Mình đã cả quyết: Nếu sau đợt học tập này, nếu không có 5, 7 thằng dựa cột, vài ba chục thằng mất chức, vô tù thì…TÔI THỀ KHÔNG BAO GIỜ TIN Ở BẤT CỨ ĐIỀU GÌ CÁC ÔNG NÓI VÀ LÀM NỮA!

Tất cả chỉ là một vở tuồng dở đến thảm hại!

Và đúng là như thế!

Ngoài mấy tên cán bộ tép riu bị ...khiển trách, cảnh cáo...

Chẳng một anh nào trong 14 anh chị mất nửa cái lông chân!

Và cả một bộ máy tuyên truyền khổng lồ vô địch trên thế giới đã được huy động để ngợi ca "Đảng ta" của họ như một cô gái trinh nguyên đang làm cả nước... "tin tưởng và...an lòng"

Cho đến gần đây, kế hoạch đại tuyên truyền cho uy tín của đảng họ đã mất bằng một vụ ra quân ca ngợi họ được mang một cái tên có vẻ như rất chi là ...rân chủ!: "Góp ý kiến cho bản dự thảo sửa đổi hiến pháp do chính họ thảo ra" để:

Trình làng một loạt những thằng (xin phép không thể gọi bọn này bằng một đại danh từ gì khá hơn được) mang những tên tuổi, danh hiệu, bằng cấp học vị tự tạo đua nhau hàng ngày lên các làn sóng của cả gẩn 70 cái Đài-Tivi và hơn 700 tờ báo bưng bê ngợi ca "Đảng ta" của họ làm nên lịch sử và cần phải tiếp tục lãnh đạo muôn đời cái dân tộc mà họ cho là ngu đần và cần phải dạy dỗ từ tấm bé đến lúc chết này!

KẺ NÀO PHỦ NHẬN CÁI ĐIỀU 4 NÀY ĐỀU LÀ ĐỒ SUY THOÁI, PHẢN ĐỘNG, LỰC LƯỢNG THÙ ĐỊCH!

Và cái bẫy đã được giăng ra y hệt thời "Trăm hoa đua nở" để điểm mặt hết những ai cần phài...xử lý!
Mặc dầu trước khi có cái gọi là "đợt sinh hoạt chính trị", chú Trọng đã dọa trước:

Không có đa đảng

Không có chuyện đòi lại đất đai

Không có chuyện tam quyền phân lập

....và cảnh báo "không để kẻ xấu lợi dụng nói xấu đảng, cán bộ.." nhưng ...như thách thức họ: hàng ngàn, hàng vạn người đã góp ý ngược với những gì mà chú Trọng muốn! Dù rằng chẳng bao giờ được công khai "ngợi ca" Tự do như bọn tờ sờ ngu như bò, bưng bô, nói láo trơ tráo, hàng ngày ngợi ca sự nô lệ tự nguyện của dân Việt Nam cho một nhóm vừa ngu vừa dốt vừa tàn bạo vừa phá hoại này trên các kênh tivi, trên "báo lề phải".

Nhưng ....thời đại Internet này, mọi tư tưởng tiến bộ, mọi ý kiến đúng đắn vì dân, do dân đã lan tỏa nhanh chóng khắp nước và thế giới khiến chú Trọng không thể im lặng chờ ngày hết hạn góp ý cho Đảng chú ấy nữa. Thế là chú ấy....đã đành rút súng khai hỏa cuộc phản công tức thì những lực lượng tiến bộ mà theo chú là "thoái hóa cần phải xử lý".

Nghe giọng điệu rừng của chú Trọng, đài từ nửa khệnh khạng, nửa khinh bạc khi nói đến nhứng ai đã dám "đòi đa đảng, đã dám đòi tam quyền phân lập, đòi quân đội phải tách rời khỏi chính trị, kéo luôn cả những ai khiếu kiện tập thể, biểủ tình vào lũ "suy thoái""yêu cầu các đồng chí phải xử lý", mình thấy rất rõ:

1- Chú Trọng muốn khẳng định mình là ai? mình biết mình muốn cái gì chứ không hề lú lẫn ...
2- Chú sẵn sàng đánh dằn mặt ngay những ai muốn nói ngược với chú vì chú có trong tay cả một bộ máy đàn áp, vũ trang và nhà tù luôn sẵn sàng mở cửa!

3- Chú rất kiêu ngạo và tự phụ một cách xấc xược trong cương vị người đứng đầu cả Đảng, cả Nhà Nước, cả Quốc Hội và là cha đẻ của cả 90 triệu "con cừu" Việt này!

4- Chú có sự hậu thuẫn của cả một nước to lớn đồng lý tưởng Đại Hán bành trướng nên chú sẵn sàng xử lý ngay những kẻ dám làm các ông bố Tầu nổi giận. Thời chú làm chủ tịch Quốc Hội, Tầu đánh đến đít, bắn giết ngư dân, tịch thu ngư cụ..., lính của chú bắt giam, tù đầy những người chỉ đòi Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam, thậm chí biểu tình ngồi như Phạm Thanh Nghiên tại gia cũng bị đi đếm lịch 4,5 năm trời,....Vậy mà chú vẫn trả lời tinh bơ trước Quốc Hội: "Tình hình biển đảo... không có gì mới"! Chú Lì chứ đâu có...Lú!

Một con người như thế mà gọi là LÚ sao được! Thậm chí chú rất có mưu kế, rất kiên quyết, rất sẵn sàng "ra tay" ngay để cứu "Đảng Ta" của chú ấy và bản thân chú ấy với niềm tin sắt đá "Còn nước Đại Hán đồng lí tưởng thì còn Đảng ta muôn đời".


Nạn nhân xử lý đầu tiên Nguyễn đắc Kiên thật dễ thương nhưng bị hy sinh đầu tiên sau khi
anh Trọng phát lệnh tấn công những kẻ "suy thoái" vì không chịu theo anh ấy - Photo by RFA


Cụ thể là người bị trúng đạn "phát động xử lý" đầu tiên của chú Trọng là nhà báo Nguyễn Đắc Kiên.
Và sẽ còn bao nhiêu người nữa bị xử lý theo lệnh của lũ các chú? Đặc biệt mỉa mai là đúng ngày này, ông Bình Minh đã xin được vào "phá thối" Ủy Ban Thường Trực của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc! Đúng là bọn họ tự định nghĩa ra "nhân quyền", "suy thoái" tùy tiện đến mức không biết xấu hổ là gì nữa!

Tổng bí thư kiêm tổng Tư lệnh quân đội oai hùng này mà lú sao được!

MỘT LẦN NỮA, DỨT KHOÁT TỚ CHO LÀ CHÚ TRỌNG KHÔNG HỀ LÚ LẪN MÀ TRÁI LẠI, CHÚ RẤT CÓ CHỦ TÂM VÀ QUYẾT ĐOÁN SẼ NÓI GÌ, LÀM GÌ ...

.............Ngày 27 tháng 2/2013

Một mẩu tin làm mình không thể không nghĩ đến có sự chỉ đạo của nhóm chú Trọng:

Đó là việc tại ngay Tử Cấm Thành Bắc Kinh, bọn Tầu đểu nó ghi một cái bảng trước một cửa hàng:  

"Không tiếp: Người Nhật Bản, Phi luật Tân, Việt Nam và..CHÓ!".

Cả tuần trôi qua, báo chí thế giới và các blogger trong, ngoài nước đều phân tích cái hiện tượng dễ trở thành xì-căng-đan ngoại giao này nếu xảy ra ở một nước khác.
Nhưng tất cả "bộ máy anh Huynh" đều câm như hến!

Tới mãi hôm nay báo nhà lước Tuổi Trẻ (chắc mới có lệnh) mới cho đăng nhưng chạy tít trang nhất thì cố tình cắt đi mấy chữ...và Chó! Chỉ còn "Nhà hàng Bắc Kinh kỳ thị người Nhật, Philippines và Việt"!!??

Ảnh chụp màn hình "tuoitre.vn" hôm nay, thứ Tư, 27/02/2013

Lại còn cố dùng chữ "kỳ thị" nhẹ tênh khi phê phán cho nó nhẹ bớt lại! Sau đó là đi lan man vào lý lịch, quá trình hoạt động của Róse Tang, tác giả tấm ảnh!

Chắc chắn đây phải là có ý kiến chỉ đạo của 14 cái "đỉnh cao trì trệ" mà cụ thể phải là ông trùm tuyên huấn họ Đinh: Phải làm sao cho mọi người bớt đi sự căm giận các "đồng chí 4 tốt của ta!"!

Tất cả nhằm làm nhẹ đi sự uất ức của 90 triệu dân Việt trong và ngoài nước, xóa bớt sự sai lầm to lớn và khiêu khích cả mấy dân tộc khi xếp họ ngang hàng cùng ...CHÓ

Mình đã phải tự hỏi mình trước khi đặt tay gõ keyboard...

Tất cả bọn họ đã là tự nguyện trở thành Hán-gốc-Việt hay Việt-gốc-Hán rồi sao dzậy?

Các bạn hãy viết thêm và bình luận về nỗi nhục ê chề này! Kệ mẹ chúng đang đi cúng vái, khấn bái ở các lễ hội và mong lôi kéo chúng ta phân tán vào 3 cái vụ "ba láp" này ....Cứ cho chúng càng "suy thoái", càng chóng đến ngày đi gặp "Bác của chúng nó"!


Theo blog nhạc sĩ Tô Hải
Read more…

Dư Luận Viên và "Bên Thắng Cuộc"

11:20 |
Nguyễn Đại

Dạo này tôi có ý định chuyển sang làm dư luận viên (DLV). Làm việc này sướng hơn phản biện, viết tốt được khen mà viết nhảm nhí cũng chẳng sao. Mà làm DLV lúc này thì chửi Bên Thắng Cuộc (BTC) là hợp thời nhất, vừa hút khách vừa an toàn. Trước mắt, phải xem lại phe ta đã viết gì về BTC. Vừa xem vừa phải nghĩ nếu là Huy Đức thì hắn sẽ bẻ lại thế nào. Lý luận phải thật vững vàng mới… chửi được, phải hết sức cẩn thận với tay nhà báo này.

Nào, dư luận viên chúng ta cố lên!

- Tôi sẽ không phê bình việc Huy Đức đặc tả một số cá nhân "không có trái tim, cổ hủ, cực đoan, ấu trĩ, thù vặt “bởi lý do họ đã khuất”. Huy Đức (có thể) sẽ bẻ tôi “thế ai rất hay đặc tả những cá nhân đã khuất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa là ác ôn, bạo chúa, sát nhân”. Huy Đức sẽ vỗ vai tôi “nhiệm vụ của DLV là chứng minh tôi sai”.

- Tôi sẽ không thanh minh rằng “Những người đã khuất không có cơ hội để phản biện, nên đám đông thiếu mất cơ hội để xác tín những gì anh Huy Đức viết có đúng hay không. Viết bằng sự khách quan hay chủ quan. Viết để trả lại sự thật cho lịch sử hoặc viết để "theo mục đích riêng mà mình hướng đến”. Bởi vì Huy Đức sẽ trả lời “vậy thì làm cách nào xác tín Lê Ngọa Triều là bạo chúa trong khi Lê Ngọa Triều đã chết nên không có cơ hội phản biện? Có rất nhiều cách để tìm hiểu chứ không nhất thiết phải lôi người chết lên mà hỏi, ông kễnh ạ”!

- Tôi sẽ không viết “không ai lại lấy tư duy của thời điểm hiện tại, để phán xét tư duy của… cái thời xa lắc”. Huy Đức sẽ cười nhạo “Nếu vậy thì còn gì để nói. Còn gì là những bài học trong quá khứ. Vậy chúng ta lấy cái gì để phán xét tư duy của Lê Chiêu Thống, của Trần Ích Tắc”?

- Tôi sẽ không lên án Huy Đức “chối bỏ mảnh đất hình chữ S”, bởi vì Huy Đức sẽ trả lời “tôi là người Việt Nam, tôi muốn cung cấp cho mọi người ít nhiều sự thật về đất nước mình, cho dù là sự thật xấu xa. Không dám nhìn nhận sự thật mới là chối bỏ mảnh đất hình chữ S”.

- Tôi sẽ không lên án Huy Đức “cầm dao mổ rạch lại vết thương đã khép miệng của nơi nuôi mình khôn lớn”. Huy Đức sẽ lập luận “anh không hề mổ lại vết thương, mà đang kể lại nguyên nhân hình thành vết thương, hòng rút ra bài học gì đó cho tương lai”.

- Mặc dù mệnh đề sau đây là đúng nhưng tôi sẽ không viết ra “Có lẽ chỉ sự thật nào có thể trở thành văn hóa, những sự thật chủ chốt, bao quát, có thể nói lên được bản chất của vấn đề, giúp cho hậu thế những bài học bổ ích thì sẽ thành lịch sử. Tất nhiên không chỉ có những bài học về sự thành công mà có cả những bài học về sự thất bại”. Đúng nhưng tại sao không viết? Bởi vì Huy Đức sẽ hỏi tôi “thế cái sự thật gây nên đói nghèo, vượt biên, đổi tiền làm phá sản hàng triệu người chưa đủ là chủ chốt, là bao quát sao anh bạn? Thế anh bạn còn muốn tình hình sẽ như thế nào thì mới nói lên “bản chất vấn đề”?

- Tôi sẽ bỏ đi cái ý này “Vì vậy những từ “minh triết”, “hiền minh” là đúng nhất dùng để chỉ những phẩm chất cần phải có của một nhà viết sử. Người ta cần phải thấu suốt hết mọi lẽ, với tấm lòng thiện đức, thì mới có thể viết được sử”. Bởi vì Huy Đức sẽ đố tôi kiếm tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây người viết sử nào đạt đến “minh triết, hiền minh, thấu suốt hết mọi lẽ, tấm lòng thiện đức”. Huy Đức cũng có thể đùa “có lẽ chỉ có Đức Thích Ca hoặc Jesus mới viết sử được”!

- Tôi sẽ không kể chuyện “nhưng có lẽ tôi là số rất ít bộ đội không đi lùng mua khung xe đạp, búp bê, radio cassettes, mà cái mong ước lớn nhất của tôi lúc ấy là được về thăm nhà và được vào đại học, chỉ thế thôi”! Bởi vì Huy Đức sẽ nói “Ừ, cá nhân nhân anh thì cao quý, nhưng rõ ràng không phải chỉ cậu bé Huy Đức, mà hầu hết bộ đội cụ Hồ đều lóa mắt bởi khung xe đạp, búp bê, radio cassettes”.

- Về mặt quan điểm cá nhân, tôi có quyền cho rằng chế độ VNCH không chính nghĩa vì thế, dùng từ “tuẫn tiết” là sai. Nhưng tôi sẽ không lập luận “dùng chữ “tuẫn tiết” để ca ngợi dũng khí của mấy người tự sát, vậy phải chăng đó cũng là cách gián tiếp chê gần một triệu người lính chế độ cũ khác không tự sát là hèn nhát”. Có thể Huy Đức sẽ lắc đầu thở dài “ngụy biện quá, khi tôi khen Phan Đình Giót lấy thân mình đắp lỗ châu mai không có nghĩa là gián tiếp chê các chiến sĩ khác không đắp lỗ là hèn nhát”.

- Tôi sẽ không đặt vấn đề “ngay cả Nguyễn Cao Kỳ cũng kêu gọi hòa hợp mà Huy Đức lại viết BTC”. Bởi vì Huy Đức sẽ ngớ người “ủa, hai chuyện này có liên quan gì đến nhau đâu? BTC không hề hô hào “chống hòa hợp”. Mà muốn có tương lai hòa hợp lại càng phải minh bạch quá khứ chứ hỉ”?
- Tôi sẽ không cho rằng “cả 2 bên (thắng và thua) đều có người chửi BTC suy ra cuốn sách không đáng tin cậy”. Huy Đức có thể bẻ “Nếu cả 2 bên có cả khen lẫn chê thì tôi rất vui, vì tôi viết không theo phe nào cả”.

- Tôi sẽ không phán bừa “Huy Đức không khách quan, sao không viết tội ác Mỹ ngụy”! Bởi vì Huy Đức sẽ chửi “vô duyên! Chủ đề cuốn sách viết về bên thắng, tự nhiên hỏi sao không viết tội ác của bên thua! Y hệt đang coi chương trình “bác sĩ bàn về rượu bia” thì một ông nghiện rượu lè nhè “bác sĩ không khách quan, sao không bàn tác hại của… mại dâm”.

Vậy với vai trò DLV, muốn chửi BTC tôi nên làm gì nhỉ… Phải bỏ công tìm dẫn chứng rõ ràng, thu thập tài liệu đầy đủ. Thận trọng trong suy luận, tránh lỗi ngụy biện, chụp mũ. Hắn ta bỏ 10 năm để viết thì DLV không thể đọc ào ào (thậm chí nghe ngóng mà không đọc) rồi chửi được. Vậy trước mắt là… khoan chửi, phải tiếp tục đọc kỹ BTC đã. Biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng mà. Nào, dư luận viên chúng ta cố lên!

Nguyễn Đại – 22/2/2013



Nguồn: Dư Luận Viên và "Bên Thắng Cuộc" - Dân Luận
Read more…

Thánh Ba & Đồng chí X

02:57 |
Lãng đầu bò

Ở thời điểm khác thì đòn rằn mặt này cũng là hợp lý: Chú mới ra, đừng to còi quá kẻo xấu mặt các anh. Nhưng với tình trạng nền kinh tế nát tươm thế này, còn mỗi một thằng thực sự làm được việc (Bá Thanh) mà chưa gì anh Ba X và đồng bọn đã hùa nhau vào tỉn, nó chỉ cho thấy vận nước chẳng có giá trị mẹ gì so với quyền lợi cá nhân và cái ghế của các anh.

Đây là đòn rằn mặt đầu tiên của đồng
chí X cho Bá Thanh


Đây có lẽ là cơn giãy chết cuối cùng của chế độ. Nếu Nguyễn Bá Thanh và phe "làm việc" (gọi thế để phân biệt với bọn đé o làm chỉ phá còn lại) thành công, chế độ sẽ tồn tại thêm ít năm. Ngược lại, 5 năm sẽ là quá đủ để đồng chí X và đồng đội, chịu sự phán xét không phải của lịch sử, mà là của một thể chế khác.

Nói chung, anh Lãng theo dõi khá kỹ màn kịch chế độ thời gian gần đây. Nguyễn Bá Thanh vốn là bạn thân của anh. Anh gặp cụ Bá lần đầu năm 2001 khi dẫn một nhóm đầu tư từ Nhật đến Đà Nẵng xây dựng nhà máy. Từ hồi đó, cùng với Triết lúc đó ở Bình Dương, anh biết đây là một người được việc, tốt cho dân cho nước. Triết sau đó được đôn lên sớm, càng lên cao càng nhanh tha hoá, để đời với bài hùng biện " Việt Nam - Cu Ba trời đất sinh ra, ngày đêm cùng nhau canh giữ hoà bình thế giới ". Trong thời gian đó Bá Thanh an vị ở Đà Nẵng, cặm cụi làm và xây dựng thành phố này thành nơi đáng sống nhất Việt Nam.

Tuy nhiên đại hội XI không hề có phương án Nguyễn Bá Thanh. Không ai trong hệ thống chính trị muốn Bá Thanh leo cao vào tam đầu đế chế, vì nếu có quyền lực, Bá Thanh sẽ giật bát cơm của vô số thành phần quen bám vào quyền lực để ăn hại quốc gia. Chỉ đến khi tình hình đất nước nát toét ra cho đến cuối năm 2012, khi Thủ tướng, còn gọi là đồng chí X được coi là thành phần phá hoại tận gốc nền kinh tế và đời sống nhân dân; khi TBT hay CT, chẳng còn một chút uy tín nào sau canh bạc thua thảm trước đồng chí X và đồng đội. Đã bắt đầu thấy đâu đó mầm mống của bạo loạn, tội phạm cướp, giết ngày một dày đặc xã hội, và người dân thì gần như đã cạn kiệt cả về tiền bạc lẫn niềm tin. Trong bối cảnh đó, tự nhiên chế độ vớ lấy Nguyễn Bá Thanh, như một cái phao cứu sinh hòng kéo dài hơi tàn cho con bệnh đã gần chết đuối.

Nhưng, như anh Lãng đã từng nhiều lần nhấn mạnh. Hệ thống hiện nay, đã không thể thay đổi chỉ nhờ một hoặc một số con người. Bộ máy của nó đã hỏng. Nguyễn Bá Thanh mất 15 năm, trong cái thế nắm quyền tuyệt đối, chỉ để xây đắp được một thành phố khoảng hơn triệu dân. Giờ ông ta ra Hà Nội, trong bối cảnh vị trí thấp, hậu thuẫn quyền lực không, và quan trọng, Nguyễn Bá Thanh không còn cái mà cách đây 15 năm năm ông ta có: Tuổi trẻ và sức lực.

Sẽ chẳng có gì thay đổi nhiều, trừ khi, Nguyễn Bá Thanh nắm quyền Tổng Bí Thư hoặc Thủ Tướng. Khi đó chắc chắn ông ta sẽ làm được, và làm được nhiều. Nhưng ai cho Bá Thanh ngồi cái ghế ấy? Đồng chí X sẽ nhường chăng? Hay ông già lụ khụ giảng chủ nghĩa Mác sẽ xả thân nhường ghế cho Nguyễn Bá Thanh?

Đọc Quyền Bính của Huy Đức, phần viết về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, một khai quốc công thần, uy tín tuyệt đối trong nhân dân, mà còn bị hệ thống và đồng đội chơi cho vô số đòn dưới thắt lưng, chưa bao giờ ngóc cổ lên được kể từ sau 1975, dù với nhân dân, ông luôn là một anh hùng dân tộc.

Cái đòn kết luận thanh tra này cũng chỉ là một ngón đòn dưới thắt lưng đầu tiên nện vào Bá Thanh. Anh Lãng đã từng phải làm việc không ít lần với đám Thanh tra, cả của chính phủ lẫn NHNN, chẳng lạ mẹ gì cái lối kết luận xiên xẹo và chụp mũ của lũ này. Nếu Thanh Tra chính phủ dám công bố kèm theo biên bản kiến nghị kết luận thanh tra của UBND Đà Nẵng, thì chắc chắn lại là một bức tranh hoàn toàn khác, đủ để Thanh Tra và đồng chí X phải đỏ mông vì ngượng. Tuy nhiên, như đã thấy, đồng chí X hồ hởi ký chỉ thị đồng ý kết luận thanh tra

Cái đất nước này, giờ 1 thằng làm, 99 thằng còn lại thì phá và kéo chân. Chẳng còn hy vọng mẹ gì ngoài chuyện nó sụp cho nhanh để nhân dân xây dựng lại một xã hội mới.

Theo blog Phọt Phẹt
Read more…

Thư đầu năm của Lê Hiếu Đằng gửi nghệ sĩ ưu tú Kim Chi

10:10 |
Lê Hiếu Đằng

Kim Chi thân mến,

Anh (cho phép anh xưng hô như ngày nào chúng ta còn ở chiến khu, ở trên R gần 45 năm trước) vừa sửng sốt, vừa xúc động và cảm phục khi đọc thư Kim Chi gởi cho Hội Điện ảnh Việt Nam, từ chối việc báo cáo thành tích để được Thủ tướng khen thưởng với lý do: “Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác mình bị xúc phạm”.

luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó chủ tịch Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thú thật với Kim Chi, ở Sài Gòn, một số nhân sĩ trí thức cũng như một số anh chị em trong phong trào sinh viên học sinh trước 1975 làm được một số việc nhưng chưa có ai “cả gan”, đủ dũng khí để phát biểu một cách công khai, minh bạch những điều mà Kim Chi đã làm như trang mạng Bauxite Việt Nam và các trang mạng khác đã đăng tải. Có những lúc bản thân anh cũng thấy nhụt nhuệ khí, nản lòng trước sự thờ ơ, “khôn vặt” của một số người chỉ hô hào ôn lại cái quá khứ, truyền thống hào hùng mà không dám nhìn vào sự thật và nói rõ sự thật của tình hình đất nước hiện nay. Tệ hại hơn nữa lại có người lợi dụng để đánh bóng tên tuổi của mình vì mục đích tư lợi. Theo anh, quá khứ và truyền thống hào hùng chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành “bà đỡ”, sức mạnh cho hiện tại, nó làm cho ta có đủ dũng khí và sáng suốt để nhận thức lại những gì do hoàn cảnh lịch sử trước đây chưa cho phép ta thấy một cách đúng đắn. Nhận thức lại và hành động cho một đất nước Việt Nam thật sự “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, cho một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ phù hợp với dòng chảy của thế giới văn minh hiện nay là tiếng gọi của lương tri, của trách nhiệm công dân của chúng ta. Ôm quá khứ, tôn vinh quá khứ để rồi làm ngơ, im lặng, thậm chí là ngụy biện để cho đỡ xấu hổ, trước cái ác, cái xấu, trước tệ nạn quan liêu tham nhũng, trước tình trạng bất công xã hội, đạo đức xã hội suy đồi, mất dân chủ nghiêm trọng, trước tình hình nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ hằng ngày hằng giờ bị tập đoàn bành trướng Bắc Kinh xâm phạm, đe dọa, trước cảnh đàn áp, bắt bớ, dùng nhục hình đối với những người yêu nước… là không thể chấp nhận được. Hẳn nhiên, mỗi người có hoàn cảnh, vị trí xã hội khác nhau không thể đòi hỏi ai cũng như ai, nhưng mỗi người chỉ cần một việc nhỏ hoặc ủng hộ bằng sự im lặng đồng tình là như góp gió thành bão cuốn phăng đi mọi trở lực dù bất cứ ở đâu tới, bạo tàn như thế nào.

Chính trong bối cảnh đó mà lá thư của Kim Chi như ngọn lửa ấm áp truyền vào tâm hồn anh trong lúc này, làm anh vững tin hơn con đường mà anh và nhiều đồng đội, bạn bè anh đã chọn lựa.

Lý tưởng chiến đấu cho nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc, cho một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ đã bị phản bội. Ai tự diễn biến và ai phản bội ai? Tình hình thực tế hiện nay đã phơi bày tất cả, không ai có thể dùng bạo lực, trấn áp để lấp liếm, che đậy được. Thế hệ chúng ta và nhiều thế hệ khác, dù miền Bắc hay miền Nam đều sống trong bi kịch: chết trên chiến trường, chết trong tù ngục… để rồi bây giờ chứng kiến cảnh đất nước tụt hậu trở về với “chủ nghĩa tư bản man rợ”, giẫm đạp lên nhau mà sống của thời kỳ mông muội của con người.
Tuổi trẻ chúng ta – tuổi trẻ Hà Nội, tuổi trẻ Sài Gòn - Gia Định – rời bỏ trường học, gia đình, nếp sống êm ấm để vượt Trường Sơn, để vào chiến khu, để đấu tranh trong lòng các đô thị và đã có nhiều đồng đội, đồng chí chúng ta đã nằm xuống vĩnh viễn – “Ta đi không kịp ẵm con thơ, không kịp về thăm người vợ chờ” (Tiếng hát người tù, thơ Trần Quang Long, Ủy viên văn nghệ Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, chủ biên tập thơ “Tiếng hát những người đi tới”) – để rồi chúng ta có một xã hội như ngày nay sao? Lý tưởng chiến đấu cho nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc, cho một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ đã bị phản bội. Ai tự diễn biến và ai phản bội ai? Tình hình thực tế hiện nay đã phơi bày tất cả, không ai có thể dùng bạo lực, trấn áp để lấp liếm, che đậy được. Thế hệ chúng ta và nhiều thế hệ khác, dù miền Bắc hay miền Nam đều sống trong bi kịch: chết trên chiến trường, chết trong tù ngục… để rồi bây giờ chứng kiến cảnh đất nước tụt hậu trở về với “chủ nghĩa tư bản man rợ”, giẫm đạp lên nhau mà sống của thời kỳ mông muội của con người. Nhưng bi kịch không có nghĩa là bi quan, hối tiếc, mà như GS Huệ Chi đã viết trên trang Bauxite Việt Nam cũng về lá thư của Kim Chi gởi Hội Điện Ảnh: “nếu ta đã sống, đã hành động với tất cả niềm tin trong sáng và giữ được đến cuối đời phẩm chất lương thiện của mình, thì sự đổ vỡ của cái hiện thực mà mình từng dâng trọn niềm tin chỉ có ý nghĩa của một bi kịch chứ không bao giờ là hài kịch. Mà đối với bi kịch, phẩm giá con người chỉ càng được tôn lên chứ không bao giờ bị hạ thấp. “Không nghi ngờ gì nữa, bi kịch là một cái gì đó thuộc về CÁI ĐẸP khi nó được/bị chạm đến tận nơi sâu thẳm" (La tragédie, sans doute, est quelque chose de beau quand elle est bien touchée – Molière)”.

Chúng ta sống trong bi kịch và nhận thức rõ bi kịch để xác tín niềm tin của mình về chính nghĩa của cuộc chiến đấu mới không khoan nhượng vì những lý tưởng của thời tuổi trẻ của chúng ta.

Thật ra thái độ quyết liệt, dứt khoát của Kim Chi không phải bột phát mà có từ sự suy nghĩ, ray rứt trong một thời gian dài. Vì anh nhớ, cách đây ba năm, gặp Kim Chi ở Sài Gòn, Kim Chi có đưa anh xem mấy bài thơ Kim Chi mới làm. Những bài thơ làm anh cảm động và vui mừng vì có người cũng suy nghĩ, cũng ray rứt như mình trước tình hình hiện nay của đất nước. Nhiều nhà thơ, nhà văn như Nguyễn Duy, Phạm Xuân Nguyên, Bùi Minh Quốc, Lại Nguyên Ân, Lữ Phương, Phạm Đình Trọng, Bùi Chí Vinh, Nguyễn Quốc Thái, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Khắc Vỹ, Võ Thị Hảo, Thùy Linh, Ngô Minh, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Đắc Xuân, Võ Quê, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Lập. v.v. đã viết, phát biểu hoặc đã ký tên vào các kiến nghị, thư ngỏ, mà gần đây nhất là “Lời kêu gọi thực hiện quyền con người theo Hiến pháp Việt Nam”. Anh thực sự vui mừng vì đội ngũ của chúng ta ngày càng đông vui, anh và Kim Chi cũng như biết bao người khác đang dấn thân cho cuộc chiến đấu mới vì một nước Việt Nam thật sự “Hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh” (Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Điều cuối cùng đọng lại ở anh qua bức thư đầu năm nay là hình ảnh của Kim Chi (lúc ấy lấy tên là Hồng Anh), của Tô Lan Phương, Dư An, Trần Mùi, Thế Hải và nhiều diễn viên khác trong Đoàn Văn công Giải phóng hôm đến diễn cho đại hội thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam vào ngày 20/4/1968. Các đại biểu đêm hôm ấy như “hút hồn” vì lời ca, tiếng hát và những vở kịch làm xúc động lòng người. Luật sư Trịnh Đình Thảo, kỹ sư Lâm Văn Tết, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, nhà văn Thanh Nghị, giáo sư Lê Văn Giáp, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ… về chỗ nghỉ rồi mà cứ khen mãi. Riêng anh em sinh viên trong Hội đồng Đại diện Sinh viên Sài Gòn và Tổng hội Sinh viên Sài Gòn gồm có Trần Triệu Luật, Trần Quang Long, Trần Thiện Tứ, Lê Quang Lộc và anh tham dự đại hội Liên minh, đêm đó xúc động không ngủ được ngồi nói chuyện với nhau đến gần sáng mới chợp mắt. Lúc ra đi vào mùa xuân 1968, sinh viên có năm đứa nhưng khi về lại Sài Gòn chỉ còn hai. Trần Quang Long, Trần Triệu Luật hy sinh ở Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam (B9) ngày 11/10/1968, Lê Quang Lộc hy sinh ngay tại cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn ngày 15/4/1975. Sau 1975, anh em mình mỗi người một ngả, có anh chị trong Đoàn Văn công Giải phóng sống trong cảnh nghèo khó, anh Thế Hải và nhiều đồng chí khác phải chạy vạy, vận động lo nhà tình nghĩa cho một số anh chị. Kim Chi nghe có đau lòng không? Chúng ta chiến đấu và đã có bao biết bao người đã ngã xuống thế mà ngày nay bạn bè, đồng chí, đồng bào chúng ta gần 45 năm rồi – một thời gian có thừa để cho một đất nước cất cánh – vẫn còn sống cơ cực, mất đất, mất nhà, mất tự do. Trong khi bọn cơ hội, hãnh tiến hoặc quan lại giàu lên từng ngày một cách bất chính lại sống phè phỡn, vô cảm trước nỗi khổ của nhân dân. Ta có thể khoanh tay ngồi yên được không? Thái độ dũng cảm, không hề sợ hãi trước quyền lực của Kim Chi đã trả lời cho câu hỏi này. Không, dứt khoát là không!

Cuối cùng, nhân dịp đầu năm 2013, anh gởi đến Kim Chi và qua Kim Chi gởi đến người bạn đời và hai con của Kim, mà những người thân yêu này đều ủng hộ việc làm của Kim Chi (đó là điều hạnh phúc nhất đời mà không dễ gì có được trong hoàn cảnh bị o ép, bắt bớ hiện nay) lời chúc một năm khỏe, vui, an lành và giữ vững niềm tin về con đường mà chúng ta đã chọn và đang đi. Chúc Kim Chi và gia đình nhận nhiều hơn nữa những bó hoa tươi của những người hâm mộ từ khắp nơi gởi về Hà Nội.

13/01/2013
Lê Hiếu Đằng


Theo Bauxite Việt Nam
Read more…

Đập tan các huyền thoại về Chiến tranh Việt Nam

02:11 |
Cuộc chiến tại Afghanistan tiếp tục kéo dài không thấy chiến thắng dứt khoát trong tầm tay, và Mỹ bắt đầu rút quân, sự so sánh với chiến tranh Việt Nam lại một lần nữa bùng lên, 50 năm sau khi cả Washington và Hà Nội đã quyết định tăng cường lực lượng Nam Việt Nam. “Chỉ cần đọc thoáng qua danh sách từ ngữ chiến tranh Việt Nam,” Tom Engelhardt viết trong tạp chí Mother Jones, “có ‘vũng lầy’” và “ý tưởng chiếm được ‘trái tim và lý trí’” cũng như “có thể ném bom được, có thể, hay trong thời đại của chúng ta hôm nay “cho máy bay không người lái”, “‘mật khu’ vùng biên giới” và có cả “phiên bản Mỹ Lai một người”. Mặc dù những tương tự này đặc biệt hấp dẫn các nhà bình luận - những người thấy cuộc chiến của Mỹ tại Afghanistan vô ích hơn chiến tranh Việt Nam và tánh thành một cuộc rút quân nhanh - họ vô cùng thiếu sót.

Một trong nhiều vấn đề của việc rút tỉa những bài học từ chiến tranh Việt Nam để áp dụng vào cuộc chiến tại Afghanistan là lịch sử của Chiến tranh Việt Nam thường bị hiểu lầm hoàn toàn. Lịch sử Chiến tranh liên tục khai triển cùng với sự xuất hiện của những bằng chứng mới, đặc biệt là những chứng từ mới từ phía bên kia [Việt Nam].

Vì ít chú ý để tìm hiểu động cơ thúc đẩy của địch, động lực nội bộ, và quan hệ đối ngoại, chúng ta [Hoa Kỳ] luôn luôn có một hình ảnh không đầy đủ và không chính xác về cuộc chiến tranh đó.

Nếu chúng ta muốn học hỏi từ quá khứ thì nên vén bức màn tre, từ lâu đã che giấu những quyết định của Bắc Việt, để xóa tan một số huyền thoại đã hằn sâu về cuộc chiến đó.

Người ta thường tin rằng Bắc Việt đã quyết định đi đến chiến tranh vào 1959-60 để cứu quân du kích miền nam khỏi bị xoá sổ và Đảng Cộng sản được người dân Việt Nam hết mình ủng hộ cho đến khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975. Tuy nhiên, những bằng chứng gần đây cho thấy rằng quyết định đi đến chiến tranh tại miền Nam Việt Nam liên quan mật thiết đến các vấn đề ở Bắc Việt. Tạo ra chiến tranh cách mạng là một cách hiệu quả để đánh lạc hướng sự chú ý đến các vấn đề trong nước, gồm có một chiến dịch cải cách ruộng đất tàn tệ, một phong trào trí thức bất đồng chính kiến và một kế hoạch nhà nước không thành công trong việc cải tạo nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Bí thư thứ nhất, Lê Duẩn, bên trái của Hồ Chí Minh
 trong một cuộc họp tại Hà Nội năm 1966.
Nguồn ảnh: Nihon Denpa News/Associated Press
Một trong những nhận thức sai lầm lớn nhất về chiến tranh Việt Nam là Hồ Chí Minh là người lãnh đạo không tranh cãi của Bắc Việt. Trên thực tế, Hồ Chí Minh là một bù nhìn, trong khi Lê Duẩn, một người chỉ nằm trong ghi chú bên lề của lịch sử, chính là kiến trúc sư, chiến lược gia và là chỉ huy trưởng của nỗ lực chiến tranh của Bắc Việt. Một người trầm tĩnh, nghiêm khắc, Lê Duẩn tránh sự chú ý, nhưng ông có ý chí sắt, tập trung và khả năng hành chính cần thiết để thống trị Đảng Cộng sản [Việt Nam].

Cùng với cánh tay phải, Lê Đức Thọ, người sau này đối đầu với Henry A. Kissinger trong các cuộc đàm phán hòa bình tại Paris, ông Duẩn xây dựng một đế chế quân phiệt vững mạnh mà đến nay vẫn bao trùm Hà Nội. Chính sách hiếu chiến của họ đã đưa Bắc Việt vào cuộc chiến chống lại Sài Gòn và sau đó là Washington, và cũng để bảo đảm một nền hòa bình qua đàm phán sẽ không bao giờ thay thế được một thắng lợi hoàn toàn.

Lê Duẩn cai trị với bàn tay sắt và xem Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nổi tiếng vì đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ, là mối đe dọa lớn nhất đối với quyền lực của mình. Ông Duẩn đã cho ông Hồ, Tướng Giáp và nhóm đàn em ra rìa và gần như nắm hết những quyết định quan trọng.

Năm 1963-4, Lê Duẩn hăm dọa khiến Hồ Chí Minh phải nín thinh khi người lãnh tụ già chống lại quyết định [của Lê Duẩn] nhằm leo thang chiến tranh và đi đến toàn thắng trước khi quân đội Mỹ có thể can thiệp. Và năm 1967-8, có một cuộc thanh trừng quy mô [Vụ án Xét lại Chống Đảng] tại Hà Nội khi Hồ Chí Minh, Tướng Giáp và các đồng minh của họ phản đối kế hoạch Tổng tấn công Tết Mậu Thân của Lê Duẩn. Mặc dù cuộc chiến tại miền Nam ban đầu đã tập hợp được người miền Bắc ủng hộ Đảng CSVN, nó đã nhanh chóng trở thành một vũng lầy. Lê Duẩn và Lê Đức Thọ phản ứng bằng cách tạo ra một nhà nước thành lũy [dựa vào sức mạnh của bạo lực], dán nhãn cho tất cả mọi đối kháng lại chính sách chiến tranh của họ là phản quốc. Bằng cách gia tăng quyền hạn của lực lượng nội an và công an tư tưởng và làm quân du kích miền Nam khuất phục Hà Nội, họ đã có thể tiến hành chiến tranh toàn diện theo quyết định của họ cho đến năm 1975.

Sự kình địch giữa Trung Quốc và Liên Xô cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định quá trình cuộc chiến Việt Nam. Chủ nghĩa cực đoan đang lên của Trung Quốc và sự thiếu cam kết với những cuộc cách mạng tại thế giới thứ ba của Liên Xô khiến Lê Duẩn nghiêng về phía Trung Quốc và đẩy mạnh chiến tranh quy mô ở miền Nam vào đầu những năm 1960. Khi sự tham gia của Mỹ đã tăng lên vào năm 1965, Liên Xô đổ viện trợ vào Bắc Việt. Đến năm 1968, sự cạnh tranh ảnh hưởng với Hà Nội giữa Bắc Kinh và Moscow đã trở nên căng thẳng.

Lê Duẩn đã tìm cách khẳng định quyền tự chủ Việt Nam bằng cách tung ra hai cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 và Mùa Hè đỏ lửa [Chiến dịch Xuân-Hè] năm 1972. Cả hai cuộc tấn công này đều không được Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa chấp thuận. Năm 1972, chuyến viếng thăm Trung Quốc và Liên Xô của Richard M. Nixon đã đánh dấu đỉnh cao của nỗ lực ngăn cản chiến tranh của Trung-Xô với Bắc Việt. Cả hai đồng minh Trung, Xô gây áp lực với Hà Nội đòi chấm dứt chiến tranh theo các điều khoản của Nixon để tranh dành ân sủng của Washington. Thay vì chờ sự “phản bội của nước lớn”, Lê Duẩn và các đồng chí đã phát động cuộc Tổng tấn công Xuân-Hè 1972, với mục đích lật đổ chính phủ Sài Gòn và đánh một đòn quan trọng vào tình hình bớt căng của Mỹ với Liên Xô và Trung Quốc.

Cuối cùng, Mỹ tự đánh bại mình trong chiến tranh Việt Nam là một huyền thoại. Trên thực tế, Việt Nam đã không là con rối hoặc người thụ động trong cuộc chiến của họ; họ đã xắp xếp hành động của Mỹ ở Việt Nam cũng như trật tự chiến tranh lạnh trên thế giới. Chính quyết định đi đến chiến thắng của Lê Duẩn trong năm 1964 đã thúc đẩy Mỹ dứt khoát can thiệp. Và các đồng minh ở Sài Gòn đã trì hoãn việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam.

Họ gan lỳ theo đuổi lợi ích riêng của họ, ngay cả khi việc này gây bất lợi cho liên minh Washington-Saigon. Làm Mỹ phải rút quân chậm lại vào năm 1969 và phá vỡ các cuộc hòa đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ trong những năm 1972-3, giới lãnh đạo miền Nam đã làm việc Mỹ rút lui khỏi khu vực Đông Nam Á phức tạp hơn nhiều. Mặc dù Washington có lý do riêng của nội bộ và về mặt địa chiến lược để can thiệp và ở lại Việt Nam, giới lãnh đạo tại Hà Nội và Sài Gòn đã quyết định tính chất và tốc độ can thiệp của Mỹ.

Chiến đấu trong cuộc chiến cuối cùng luôn luôn là một mối nguy hiểm. Nó lại trở thành vấn đề lớn hơn khi những sự tương tự lịch sử dẫn lối cho các chính sách hiện nay lại dựa trên sự hiểu biết không đầy đủ và sai sót về những thất bại trong quá khứ của Mỹ. Bằng chứng lịch sử mới đã sửa lại sự hiểu biết của chúng ta về chiến tranh Việt Nam và làm cho tất cả mọi đánh đồng trực tiếp không đứng vững, ít nhất chúng ta có thể rút ra một bài học: chúng ta cần khắt khe trong phân tích về nỗ lực chiến tranh của địch.

Lãnh đạo Taliban có những quan điểm xung đột về các cuộc đàm phán hòa bình, triển vọng hòa giải với chính phủ Afghanistan, và hướng đi của phong trào. Với Mullah Muhammad Omar chỉ như là lãnh đạo tinh thần của Taliban, cơ hội đã xuất hiện cho một phe dám làm với một chỉ huy kiên định - như là trường hợp của Lê Duẩn - để thống nhất hay thống trị các phe nhóm tại Afghanistan. Nhóm lãnh đạo mới này chắc chắn sẽ là người chủ chiến, và đặc biệt nếu Mỹ có một thỏa thuận không phổ biến với các quan chức Taliban ở Pakistan.

Và ngay cả khi thương vong gia tăng cuối cùng có thể khiến phe chủ chiến ủng hộ hòa bình, chính sách của Lầu Năm Góc xếp loại tất cả đàn ông thanh niên trong vùng lân cận với các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái là binh sĩ có thể làm suy yếu khuynh hướng ủng hộ hòa bình, cũng giống như cách Mỹ đã ném bom tới tấp vào các “vùng oanh kích tự do” và “khu oanh tạc có quy định” trong chiến tranh Việt Nam đã đẩy biết bao người dân bực tức gia nhập hàng ngũ Cộng sản.

Hiểu rõ vai trò của các nhân tố trong khu vực là điều rất quan trọng với Hoa Kỳ - thí dụ như các dịch vụ an ninh của Pakistan - có ảnh hưởng đến chính trị nội bộ của Taliban. Trong khi sự cạnh tranh giữa Trung Quốc-Liên Xô cho phép Hà Nội duy trì quyền tự chủ cùng lúc nhận được viện trợ tối đa từ cả hai nước, các cuộc nổi dậy tại Afghanistan không được lợi thế như vậy, đặc biệt vì ảnh hưởng của nước láng giềng, Iran, rất hạn chế. Do đó, Mỹ có vị thế thuận lợi hơn ở Afghanistan so với vị trí đã có tại Việt Nam.

Cuối cùng, Hoa Kỳ dự định hoàn tất cuộc rút quân vào năm 2014, nhưng như lịch sử cho thấy, đồng minh có thể không luôn luôn thực hiện theo mong muốn của chúng ta. Có thể là chính phủ Hamid Karzai hoặc chính quyền kế nhiệm sẽ định tốc độ của việc rút quân của Mỹ khỏi Afghanistan. Vì như chúng ta đã thấy tại Việt Nam, chúng ta không thể giả định rằng chúng ta có thể một mình quyết định được hành động của mình.
Lien-Hang Nguyen

Lien-Hang Nguyen là Phó Giáo sư lịch sử tại Đại học Kentucky và là tác giả cuốn Chiến tranh của Hà Nội: Một lịch sử quốc tế của cuộc chiến tranh vì hòa bình tại Việt Nam. (“Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Vietnam.”)
© Lien-Hang Nguyen - DCVOnline lược dịch



Nguồn: Exploding the Myths About Vietnam. By LIEN-HANG NGUYEN, The New York Times. August 11, 2012.

Read more…

Nội dung và hiệu lực ràng buộc của công hàm 1958

00:07 |
Trương Nhân Tuấn

Về một số ý kiến tiêu biểu của các học giả trong, ngoài nước về nội dung và hiệu lực ràng buộc của công hàm 1958

Công hàm ngày 10 tháng 9 năm 1958 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng là tài liệu quan trọng nhứt của phía Trung Quốc (TQ) đưa ra nhằm chứng minh Việt Nam (VN) đã công nhận chủ quyền của nước này tại Hoàng Sa (HS) và Trường Sa (TS).

Ngày 4 tháng 9 năm 1958 Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải quốc gia. Tuyên bố gồm 4 điều, nội dung phần quan trọng tóm lược như sau:
Điều 1: Lãnh hải của TQ rộng 12 hải lý. Điều này áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ TQ, các hải đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, đảo Bành Hồ và các đảo phụ thuộc, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa)…

Điều 3: Tất cả phi cơ, thuyền bè không được phép của TQ thì không được xâm phạm vào không và hải phận của nước TQ.

Điều 4: Nguyên tắc qui định ở điều 3 (và 2) được áp dụng cho cả HS và TS.
Ngày 10 tháng 9 năm 1958 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi công hàm (công hàm 1958) ủng hộ tuyên bố của TQ nguyên văn như sau:
“Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.”
1. Công hàm 1958 là một “tuyên bố đơn phương”

Phạm Văn Đồng và công hàm 1958…Nguồn: OntheNet
Nhiều người gọi “công hàm” 1958 của Phạm Văn Đồng là “lá thư” của ông Đồng gởi cho ông Chu Ân Lai[1], với hy vọng làm giảm thiểu tính quan trọng của văn bản. Thực ra việc gọi thế nào không quan trọng, mà quan trọng là trên quan điểm quốc tế công pháp văn bản này có hiệu lực pháp lý hay không?

Khoản 1 của Nguyên tắc Hướng dẫn về Tuyên bố Đơn phương của Quốc gia được Ủy ban Công pháp Quốc tế thuộc LHQ[2] thông qua (từ nay gọi tắt là Nguyên tắc Hướng dẫn) có nội dung:
Des déclarations formulées publiquement et manifestant la volonté de s’engager peuvent avoir pour effet de créer des obligations juridiques. Lorsque les conditions pour qu’il en soit ainsi sont réunies, le caractère obligatoire de telles déclarations repose sur la bonne foi; les États intéressés peuvent donc en tenir compte et tabler sur elles; ils sont fondés à exiger que de telles obligations soient respectées.
Tạm dịch: Những tuyên bố phát biểu một cách công khai và bày tỏ ý muốn tôn trọng (những gì đã tuyên bố) có thể có tác dụng tạo ra các nghĩa vụ pháp lý. Khi các điều kiện được hội đủ, tính cách ràng buộc của các tuyên bố này được dựa vào sự thành tín. Quốc gia liên hệ có thể xem xét và dựa vào tuyên bố này làm căn cứ, để đòi hỏi các nghĩa vụ đó phải được tôn trọng.

Khoản 5 của bản Nguyên tắc Hướng dẫn: 5. Les déclarations unilatérales peuvent être formulées par écrit ou oralement.

Tạm dịch: Các tuyên bố đơn phương có thể phát biểu bằng chữ viết hay bằng lời nói.
Lá thư, hay “công hàm” của ông Đồng đã thể hiện một cách công khai, có đăng tải trên báo chí hai nước Việt-Trung và được lưu trữ trong hồ sơ ở LHQ. Nó là một “tuyên bố đơn phương”. Nội dung tuyên bố này là “ghi nhận và tán thành” tuyên bố về hải phận của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa (CHNDTH).

Khoản 2 của Nguyên tắc Hướng dẫn: 2. Tout État a la capacité d’assumer des obligations juridiques par des déclarations unilatérales.

Tạm dịch: Mọi quốc gia đều có khả năng đảm nhận những ràng buộc pháp lý qua các tuyên bố đơn phương.

Trên phương diện quốc tế công pháp, quốc gia gọi là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) có thể bị ràng buộc do tuyên bố 1958 của ông Phạm Văn Đông. Vấn đề cần tìm hiểu là bị “ràng buộc” về những điều gì?

2. Công hàm không có hiệu lực vì người ký không có tư cách pháp nhân

Nhiều bài báo, nhiều ý kiến đóng góp về công hàm 1958 thường hay nói đến tư cách pháp nhân của ông Phạm Văn Đồng. Các ý kiến này cho rằng ông Đồng không có tư cách để ra một tuyên bố liên quan đến vấn đề lãnh thổ.

TS Nguyễn Hồng Thao, trong cuốn “Le Vietnam et ses différends maritimes dans la mer de Biển Đông[3]” nói về việc này như sau:
La note de Pham Van Dong ne contient aucune renonciation explicite de la souveraineté sur les deux archipels au profit de la Chine. La portée de cette note n’a pas non plus la valeur obligatoire de renoncer à une souveraineté. En vertu de ses fonctions, un Premier Ministre n’a pas la compétence de céder le territoire. Cela relève au pouvoir de l’Assemblée Nationale de Viet Nam.
Tạm dịch: Lá thư của Phạm Văn Đồng không hề nói đến việc từ bỏ chủ quyền ở hai quần đảo cho TQ. Hiệu lực của lá thư này cũng không có giá trị bắt buộc ở việc từ bỏ chủ quyền. Theo chức năng của ông này, một Thủ tướng không có thẩm quyền để nhượng lãnh thổ. Đây là thẩm quyền thuộc về Quốc hội.

Về hiệu lực của công hàm 1958 sẽ nói ở dưới. Về tư cách pháp nhân, ý kiến này không phù hợp với quan điểm Quốc tế Công pháp. Thật vậy, điều 4[4] của Nguyên tắc Hướng dẫn, những viên chức nhà nước như Chủ tịch nước, Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao… là những người có tư cách để ra một tuyên bố. Nguyên văn điều 4:
4. Une déclaration unilatérale n’engage internationalement l’État que si elle émane d’ une autorité ayant compétence à cette fin. En vertu de leurs fonctions, les chefs d’État, les chefs de gouvernement et les ministres des affaires étrangères sont habilités à formuler de telles déclarations. D’autres personnes représentant l’État dans des domaines déterminés peuvent être autorisées à engager celui-ci, par leurs déclarations, dans les matières relevant de leur compétence.
Tạm dịch như sau: một tuyên bố đơn phương chỉ ràng buộc quốc gia (vào các vấn đề thuộc phạm vi) quốc tế khi tuyên bố này phát xuất từ một quan chức nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi đó. Với chức năng của họ, chủ tịch nước, thủ tướng và bộ trưởng bộ ngoại giao (là những người) có quyền để thành lập một tuyên bố như vậy. Các cá nhân khác đại diện cho quốc gia trong những lãnh vực nhứt định có thể được phép gắn kết (quốc gia vào các vấn đề thuộc lãnh vực quốc tế), qua tuyên bố của họ, trong các vấn đề thuộc thẩm quyền của họ.

Sáng ngày 21.9.1958, đồng chí Nguyễn-Khang, Đại sứ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tại Trung-quốc, đã gặp đồng chí Cơ Bàng-phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa và đã chuyển bức công hàm sau đây của Chính phủ ta:… Nguồn ảnh: Báo Nhân Dân (1958)
Theo tinh thần điều 4 văn bản hướng dẫn này, ông Phạm Văn Đồng là thủ tướng chính phủ nước VNDCCH, dĩ nhiên có tư cách và đầy đủ thẩm quyền để ra một tuyên bố về một vấn đề thuộc phạm vi quốc tế.

Thí dụ dẫn từ hồ sơ CIJ [The International Court of Justice, ICJ hay La Cour internationale de Justice, CIJ] về tư cách pháp nhân của người ra tuyên bố.

Trường hợp tranh chấp[5] giữa Mã Lai và Singapore về các đảo Pedra Branca (tên Mã Lai là Pulau Batu Puteh), Middle Rocks và South Ledge (quan trọng hơn cả là đảo Pedra Branca). Nội vụ được đưa ra Tóa án Công lý Quốc tế (CIJ) vào tháng 2 năm 2003 và được phân xử ngày 23 tháng 5 năm 2005.

Trước tòa, theo các chứng cớ lịch sử, Mã Lai đã chứng minh được chủ quyền lịch sử của mình ở đảo Pedra Branca, từ thời mới lập quốc (vương quốc Johor, thế kỷ 15) cho tới năm 1850. Trong khi Singapore, được tiểu vương Johor nhượng cho Công ty Đông Ấn thuộc Anh vào ngày 02 tháng 8 năm 1824, lãnh thổ bao gồm tất cả các đảo trong vòng 10 hải lý. Trong khi đó đảo Pedra Branca cách Singapore đến 24 hải lý. Nhưng trong một khoảng thời gian dài, từ năm 1850, vương quốc Johor (quốc gia tiền nhiệm Mã Lai) đã không hành sử chủ quyền của họ tại đảo này. Khi người Anh ở Singapore cho xây một ngọn hải đăng trên đảo năm 1850 thì không gặp sự phản đối nào của vương quốc Johor. Mặt khác, nhân dịp trả lời lá thư của Singapore về chủ quyền đảo Pedra Branca năm 1953, viên Bộ trưởng lâm thời Bộ ngoại giao vương quốc Johor viết công hàm xác nhận đảo Pedra Branca “không thuộc chủ quyền Johor”. Mặc dầu phía Mã Lai phản đối rằng viên bộ trưởng kia không có thẩm quyền để tuyên bố về một vấn đề “lãnh thổ”. Nhưng tòa đã bác lý lẽ này vì cho rằng tuyên bố đó không có ý nghĩa của một tuyên bố về lãnh thổ mà chỉ là ý kiến của vương quốc Johor về chủ quyền đảo Pedra Branca.

Công hàm 1953 của vương quốc Johor tương tự với trường hợp công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. Đó không phải là một kết ước về lãnh thổ mà chỉ là ý kiến của nước VNDCCH về quyết định của nước CHNDTH (về lãnh thổ và hải phận của TQ). Công hàm 1958 không hề là một tuyên bố từ bỏ chủ quyền.

(Ở thí dụ này ta cũng thấy một nước, do thái độ của chính phủ nước này, có thể bị mất chủ quyền lịch sử ở một vùng lãnh thổ nào đó. Trường hợp VN và TQ tại hai quần đảo HS và TS, ta dễ dàng chứng minh VN có chủ quyền lịch sử tại hai quần đảo này, thông qua các tấm bản đồ, hay các sử liệu lịch sử, do chính từ TQ thành lập. Nhưng nếu trong một thời gian dài, nhà nước VN có những tuyên bố, hay các động thái tương đương với sự “đồng thuận – acquiescement”, các hành vi này được xem là tự nguyện “từ bỏ chủ quyền”, VN có thể bị mất chủ quyền lịch sử ở các nơi này. Điều này có ý nói rằng vấn đề chủ quyền lịch sử là quan trọng nhưng thái độ của nhà nước đối với vùng lãnh thổ đó còn quan trọng hơn.)

Ta cũng có thể dẫn từ các bản án mẫu của CIJ về các tuyên bố đơn phương mà vai trò của người tuyên bố, cũng như hoàn cảnh của tuyên bố bị đặt lại, nhưng vẫn không thể hủy bỏ hiệu lực của tuyên bố.

3/ Công hàm 1958 không có hiệu lực vì vi hiến

Nhiều bài báo, nhiều ý kiến ở VN gần đây cho rằng chiếu theo hiến pháp VN, ông Đồng không có tư cách để tuyên bố về một vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ. Thật vậy, theo hiến pháp của VN hiện tại, hay trong thời kỳ ông Đồng làm thủ tướng, vấn đề phân định biên giới phải được thể hiện bằng một kết ước, có sự đồng thuận giữa hai nước, phải được quốc hội thông qua. Ý kiến của TS Nguyễn Hồng Thao đã dẫn ở trên trong chừng mực cũng nằm trong chiều hướng này.

Nhưng tuyên bố 1958 của ông Đồng, đã nói ở trên, không phải là một “tuyên bố về lãnh thổ”, có mục tiêu làm thay đổi lãnh thổ nước VNDCCH. Nếu văn bản có mục tiêu làm thay đổi lãnh thổ thì tuyên bố này vi hiến.

Xét nội dung của cả hai bản tuyên bố. Bản tuyên bố của TQ trước hết là một tuyên bố về chủ quyền, theo đó TQ khẳng định ý chí của họ về chủ quyền của TQ tại Đài Loan, Bành Hồ… (đang dưới quyền kiểm soát của phe Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo). Sau đó là tuyên bố về hệ thống đường cơ bản và bề rộng lãnh hải 12 hải lý (điều 2). Điều 3 khẳng định quyền tài phán của TQ tại vùng không gian và vùng nước thuộc lãnh hải TQ. Điều 4 qui định các đảo Tây Sa và Nam Sa (tức HS và TS) cùng các đảo khác của TQ đều có qui chế xác định ở điều 1 và điều 2.

Bối cảnh bản tuyên bố của TQ, sẽ nói rõ hơn ở phần dưới, cũng như tuyên bố của nhiều nước khác cận biển trong cùng thời kỳ, được thể hiện sau khi Hội nghị của LHQ về Biển ngày 29-4-1958 thông qua bốn Công ước gồm: Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, Công ước về đại dương, Công ước về đánh bắt và bảo toàn các nguồn sinh vật trong đại dương và Công ước về thềm lục địa. Các quốc gia thuộc LHQ có thể ký nhận các công ước này ở thời điểm giới hạn là 31-10-1958. Một Nghị định thư không bắt buộc về thể thức giải quyết tranh chấp cũng được thông qua. Vì không phải là một thành viên của LHQ, tuyên bố của TQ là cần thiết để khẳng định những đòi hỏi của nước này về lãnh hải và vùng tiếp cận. Ta thấy tuyên bố bề rộng lãnh hải 12 hải lý của TQ hoàn toàn phù hợp với Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải.

Tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng là tuyên bố ủng hộ tuyên bố của TQ về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải của nước này. Thực ra việc này không cần thiết. Bởi vì, cũng như tuyên bố của các nước khác, nếu nội dung tuyên bố của TQ không có điều gì phải phản đối, tự động tuyên bố này có hiệu lực đối với tất cả các nước trên thế giới. (Tuyên bố của TQ bị Hoa Kỳ phản đối vì hệ thống đường cơ bản lấn biển khá xa).

Tức là, có hay không có tuyên bố 1958 của ông Phạm Văn Đồng, nếu VN không lên tiếng phản đối hay bảo lưu về một điều gì đó liên quan đến nội dung tuyên bố của TQ, tự động tuyên bố này có hiệu lực pháp lý.

Tuyên bố 1958 của ông Phạm Văn Đồng không phải là một tuyên bố về “lãnh thổ”. Vì vậy tuyên bố này không vi hiến.

Dầu vậy, theo tập quán quốc tế, một tuyên bố đơn phương nếu đi ngược lại tinh thần hiến pháp của quốc gia tuyên bố, hiệu lực của tuyên bố vẫn có thể cao hơn hiến pháp của quốc gia. Tuyên bố đơn phương không phải là một văn bản “hành chánh” thuộc phạm trù quốc gia mà là một văn bản (hay hành vi) thuộc phạm trù quốc tế. Một văn bản hành chánh chịu chi phối của luật quốc gia nhưng một tuyên bố đơn phương (liên quan đến một vấn đề quốc tế) chịu chi phối của luật pháp quốc tế. Mà luật quốc tế có giá trị “cao” hơn luật quốc gia.

Thí dụ sau đây cho thấy những rắc rối đưa đến từ việc mâu thuẫn giữa luật quốc nội và luật quốc tế về tuyên bố đơn phương.

Công hàm ngày 22 tháng 11 năm 1952 của bộ trưởng bộ Ngoại giao Colombia gởi bộ Ngoại giao Venezuela về lập trường của Colombia về chủ quyền quần đảo Los Monjes[6]. Công hàm này xác định chủ quyền của Venezuela tại quần đảo Los Monjes.

Năm 1971, Ủy ban Quốc gia Colombia nhận được một khiếu nại cho rằng công hàm 1952 vi hiến vì các vấn đề thuộc chủ quyền lãnh thổ phải được thể hiện bằng một hiệp ước, và phải được quốc hội thông qua. Thực tế là công hàm của Bộ ngoại giao có làm thay đổi “biên giới” nước Colombia, vì trực tiếp nhìn nhận quần đảo Los Monjes thuộc Venezuela. Tháng 3 năm 1971 Ủy ban Quốc Gia Colombia phán xét rằng Ủy ban không có thẩm quyền để hủy bỏ công hàm 1952 bởi vì đây là một văn bản thuộc phạm vi quốc tế. Một văn bản quốc tế thì phải áp dụng Quốc tế Công pháp. Tháng 4 năm 1971, phán quyết này lại khiếu nại lên Ủy ban Quốc Gia. Lần này lý lẽ phía khiếu nại cho rằng phán quyết không phù hợp với hiến pháp Colombia trong các vấn đề liên quan đến các văn bản quốc tế. Bên khiếu nại nhấn mạnh, để tuyên bố có hiệu lực, ý chí của hai quốc gia cần phải được thể hiện. Tức là, quan điểm của hiến pháp Colombia thì không công nhận hiệu lực các tuyên bố đơn phương mà chỉ nhìn nhận các hết ước có tính qui ước (có sự đồng thuận của hai bên).

Điều ghi nhận ở đây, khác với hiến pháp của phần lớn các quốc gia khác, hiến pháp Colombia không nhìn nhận “tuyên bố đơn phương” là một văn bản quốc tế. Một văn bản quốc tế, theo họ, phải có sự đồng thuận của hai bên. Trong trường hợp chủ quyền quần đảo Los Monjes, phải xác định bằng một hiệp định.

Vấn đề quần đảo Los Monjes được đưa lên Ủy ban Hiến Pháp quyết định. Ủy ban này cũng từ khuớc vì cho rằng không có thẩm quyền (23-5-1975). Cuối cùng, ngày 20-10-1992, Ủy ban Quốc gia phán quyết: Công hàm ngày 22 tháng 11 năm 1952 của bộ trưởng bộ Ngoại giao Colombia gởi bộ Ngoại giao Venezuela là không có gia trị.

Nhưng dường như hành động của Ủy ban Quốc gia Colombia chỉ nhắm đến việc giải quyết trong nội bộ Colombia, để xoa dịu thành phần chống đối. Vì trên thực tế, hiện nay nhà nước Colombia công nhận chủ quyền của Venezuela tại quần đảo Los Monjes qua việc phân định hải phận giữa hai nước. Việc tranh chấp hai bên là vùng nước chung quanh Los Monjes, phía Colombia chủ trương các đảo này có hiệu lực giới hạn trong khi phía Venezuela đòi hỏi vùng biển phía ngoài các đảo, có đầy đủ hiệu lực.

3. Công hàm 1958 không có hiệu lực vì tuyên bố của TQ vi phạm luật quốc tế

Có ý kiến cho rằng công hàm 1958 không có hiệu lực vì tuyên bố của phía TQ vi phạm luật quốc tế. Ý kiến này cho rằng tuyên bố của TQ vi phạm luật quốc tế vì hệ thống đường cơ bản của TQ không phù hợp với Luật quốc tế về Biển 1958.

Theo khoản 8 bản Nguyên tắc Hướng dẫn: 8. Une déclaration unilatérale en conflit avec une norme impérative du droit international général est nulle.

Tạm dịch: Một tuyên bố đơn phương mâu thuẩn với một nguyên tắc bắt buộc của luật quốc tế thì nó không có giá trị.

Như đã nói ở phần 2, tuyên bố về hải phận của TQ là một tuyên bố đơn phương. Nếu tuyên bố này mâu thuẩn với luật Quốc tế thì tuyên bố này không có giá trị. Dĩ nhiên công hàm 1958 cũng không có giá trị.

Ta thấy qui ước về đường cơ bản trong Công ước về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp 1958 không khác nhiều nội dung bộ Luật biển 1982. Hệ thống đường cơ bản của TQ từ năm 1958 đến nay không thay đổi. Trong chừng mực, một số đoạn trong hệ thống đường cơ bản của TQ khá xa bờ, nhưng việc lấy các đảo cận biển để làm điểm cơ bản thì việc này không mâu thuẩn với Luật quốc tế về Biển. Tập quán này đã được rất nhiều nước trên thế giới sử dụng (kể cả VN). Tuyên bố về đường cơ bản của TQ bị các nước (như Hoa Kỳ) phản đối. Nhưng nói rằng nó không có giá trị trên toàn bộ là không thuyết phục. Bởi vì, nếu bị chống đối, TQ (hay VN cũng như các nước có chung trường hợp), có thể thay đổi để phù hợp với Luật biển 1982.

Vì thế khi cho rằng tuyên bố 1958 của ông Phạm Văn Đồng không có giá trị vì ủng hộ một tuyên bố vi phạm luật quốc tế là không có căn cứ.

4. Nội dung Công hàm 1958

Đây mới là điều quan trọng nhứt để bàn cãi. VN có thể bị ràng buộc pháp lý ở các điểm nào trong nội dung bản tuyên bố 1958?

Khoản 7 của bản Nguyên tắc Hướng dẫn:
7. Une déclaration unilatérale n’entraîne d’obligations pour l’État qui l’a formulée que si elle a un objet clair et précis. En cas de doute sur la portée des engagements résultant d’une telle déclaration, ceux-ci doivent être interprétés restrictivement. Pour interpréter le contenu des engagements en question, il est tenu compte en priorité du texte de la déclaration ainsi que du contexte et des circonstances dans lesquelles elle a été formulée.
Tạm dịch: Một tuyên bố đơn phương chỉ có khả năng ràng buộc quốc gia (đã phát biểu) khi nội dung (của bản tuyên bố) có một mục đích rõ ràng và cụ thể. Trong trường hợp có nghi ngờ về mức độ cam kết của tuyên bố, thì văn bản phải được giải thích một cách hạn chế. Để giải thích nội dung của những cam kết này, ta phải đặt ưu tiên cho văn bản của tuyên bố cũng như bối cảnh và trường hợp mà tuyên bố được thể hiện.

Bà Monique Chemillier-Gendreau[7] giới hạn hiệu lực của công hàm 1958 ở “bề rộng lãnh hải”. Bà viết như sau:
“La déclaration de Pham Van Dong se tient strictement, il est vrai, à la reconnaissance de la largeur de la mer territoriale chinoise. Il est donc inexact de soutenir que le Viet Nam aurait ainsi “réaffirmé sa reconnaissance de la prétention chinois” sur les archipels ”.
Tạm dịch: Tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng chỉ hạn chế ở việc nhìn nhận bề rộng lãnh hải của Trung Quốc. Cho rằng Việt Nam “tái xác định việc công nhận chủ quyền của Trung Quốc” ở các quần đảo là điều không đúng.

TS Nguyễn Hồng Thao[8] cũng có cái nhìn tương tự, công hàm chỉ nhằm mục đích công nhận lãnh hải 12 hải lý. Ông cũng cho rằng công hàm có giá trị về chính trị hơn là pháp lý:
La note exprimant un engagement plus politique que juridique, une forme courante utilisée par des pays socialistes pour manifester leur solidarité idéologique. Elle a pour objet précis de soutenir les Chinois dans l’application de la largeur des 12 milles marins de la mer teritoriale.
Tạm dịch: Lá thư biểu lộ một sự liên kết về chính trị hơn là pháp lý, một hình thức thông dụng đã được các nước trong khối XHCN sử dụng để bày tỏ tình đoàn kết ý thức hệ. Lá thư có mục tiêu rõ rệt ủng hộ TQ trong việc áp dụng bề rộng lãnh hải 12 hải lý.

Ông Lưu Văn Lợi[9] cũng viết tương tự:
“Xem nguyên văn bức thư của ông Phạm Văn Đồng người ta thấy bức thư chỉ có một nội dung là ủng hộ Trung Quốc quy định hải phận rộng 12 hải lý và hứa sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm phải tôn trọng quy định 12 hải lý.
Nội dung đó không hề nói đến vấn đề lãnh thổ, càng không nói gì đến vấn đề các quần đảo. Nội dung chỉ có thế, sao lại xuyên tạc là “sự công nhận” Hoàng Sa là của Trung Quốc?”
Trong bài phỏng vấn tiến sĩ Balazs Szalontai của BBC[10], ta cũng tìm thấy ý nghĩa khá giống như vậy:
Dẫu vậy, ông (Phạm Văn Đồng) có vẻ đủ thận trọng để đưa ra một tuyên bố ủng hộ nguyên tắc rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với hải phận 12 hải lý dọc lãnh thổ của họ, nhưng tránh đưa ra định nghĩa về lãnh thổ này. Mặc dù tuyên bố trước đó của Trung Quốc rất cụ thể, nhắc đến toàn bộ các đảo bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa mà Bắc Kinh nói họ có chủ quyền, thì tuyên bố của Bắc Việt không nói chữ nào về lãnh hải cụ thể được áp dụng với quy tắc này.
Chiếu theo tinh thần khoản 7 của Nguyên tắc Hướng dẫn, nếu nội dung văn bản không rõ rệt (việc nhà nước VNDCCH sẽ “ghi nhận và tán thành” cái gì) thì việc diễn giải nội dung tuyên bố này phải giải thích một các hạn chế. Đó là điều mà quí vị Monique Chemillier-Gendreau, Nguyễn Hồng Thao, Lưu Văn Lợi và tiến sĩ Balazs Szalontai đã diễn giải.

Nhưng văn bản có hai đoạn văn: Đoạn 1 “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc”.

Đoạn 2: chỉ thị cho các cơ quan nhà nước triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.

Các vị này chỉ nói về đoạn văn thứ hai mà không xem xét đoạn văn thứ nhứt của công hàm 1958.
Nội dung của tuyên bố 4-9-1958 về hải phận của TQ là một tuyên bố khẳng định chủ quyền về lãnh thổ.

Ông Phạm Văn Đồng, tác giả công hàm 1958, đã có ý kiến về công hàm này. Nhà báo Frank Ching trong bài “Paracel Islands Dispute[11]” trên Far Eastern Economic Review ngày 10-02-1994 ghi lại lời của Phạm Văn Đồng về nguyên nhân và nội dung công hàm 1958. Ông Đồng nói ngắn gọn, nhưng rõ rệt:

Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy.”

Cũng trong bài báo của Frank Ching nói trên, có ghi lại lời ông Nguyễn Mạnh Cầm:

“Các nhà lãnh đạo của chúng tôi đã có tuyên bố lúc trước về Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên tinh thần sau: Lúc đó, theo Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, các lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 về phía nam, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam. Hơn nữa, Việt Nam đã phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đã phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, tình hữu nghị Hoa-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Trung Quốc đã cho Việt Nam một sự ủng hộ rất vĩ đại và giúp đỡ vô giá. Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đòi hỏi khẩn cấp nêu trên, tuyên bố của các nhà lãnh đạo của chúng tôi [ủng hộ Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc.”
Như thế công hàm 1958 không phải chỉ “ủng hộ” bề rộng lãnh hải 12 hải lý như bà Monique Chemillier-Gendreau,TS Nguyễn Hồng Thao, ông Lưu Văn Lợi hay tiến sĩ Balazs Szalontai đã nói. Những người trong cuộc, ông Phạm Văn Đồng và ông Nguyễn Mạnh Cầm, đã nhìn nhận nội dung công hàm 1958 là công nhận chủ quyền của TQ ở HS và TS. Ông Phạm Văn Đồng biện hộ “nói vậy” vì lúc đó là “thời kỳ chiến tranh”. Ông Cầm thì biện hộ vì HS và TS thuộc miền Nam quản lý, việc ủng hộ là “cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc”.

Nội dung công hàm 1958 sẽ rõ rệt hơn, nếu quí vị học giả Monique Chemillier-Gendreau, TS Nguyễn Hồng Thao, ông Lưu Văn Lợi hay tiến sĩ Balazs Szalontai xem xét thái độ của VNDCCH từ năm 1954 cho đến năm 1975 về hai quần đảo HS và TS. Ta sẽ tìm thấy nhiều bằng chứng nhà nước VNDCCH tôn trọng nội dung công hàm 1958. Trường hợp các bản đồ in sau 1958 một số có ghi HS và TS dưới tên Tây Sa và Nam Sa đồng thời ghi chú thuộc TQ. Hay các bài báo đăng trên báo Nhân Dân, xác định vùng biển, vùng trời HS thuộc TQ v.v. Các động thái này cho thấy chính phủ VNDCCH nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS[12]. Và đó cũng là mục đích của công hàm 1958.

Mặt khác, bà Monique Chemillier-Gendreau có viết[13]:
“Néanmoins, son silent devant l’affirmation de souveraineté chinoise sur les iles peut être interprété comme un acquiescement, et cela autant plus qu’il est renforcé par la déclaration relative aux zones de combat et les articles du Nhan Dan.”
Tạm dịch: dầu vậy, sự im lặng (của nhà nước VNDCCH) trước sự khẳng định chủ quyền của Trung Hoa tại các đảo có thể được hiểu như là một sự đồng thuận. Việc này càng được củng cố qua các tuyên bố liên quan đến vùng chiến sự và những bài viết trên báo Nhân Dân.

Tuy đoạn văn này nối liền với đoạn văn dẫn trên của học giả Monique Chemillier-Gendreau nhưng không thấy học giả VN nào nói tới.

Thử xét thêm lời giải thích của ông Nguyễn Mạnh Cầm. Vì HS và TS do VNCH quản lý do đó công hàm 1958 không hiệu lực. ở điểm này, học giả Monique Chemillier-Gendreau cũng có cái nhìn tương tự: “người ta không thể cho cái mà người ta không có”.

Tuy nhiên, theo nội dung Hiệp định Genève 1954, nước Việt Nam là duy nhứt[14]. Trên thực tế, VN có hai vùng lãnh thổ do hai chính phủ khác nhau về ý thức hệ lãnh đạo, nhưng trên quan điểm luật pháp quốc tế nước VN chỉ có một. Ông Cầm không thể viện dẫn việc HS và TS do VNCH quản lý thì có thể tuyên bố chủ quyền các quần đảo này của nước nào cũng được. Bởi vì, HS và TS thuộc bên nào quản lý thì chúng cũng thuộc về một nước Việt Nam duy nhứt. Khi chủ trương một quốc gia duy nhứt, hai nhà nước lãnh đạo hai vùng lãnh thổ khác biệt, đều có bổn phận như nhau trong việc bảo toàn lãnh thổ, cho dù phần lãnh thổ này do bên này hay do bên kia quản lý.

Mặt khác, lời giải thích của ông Nguyễn Mạnh Cầm, cũng như của ông Đồng, đã xóa bỏ lập luận “công hàm chỉ nói đến hải phận 12 hải lý mà không nói đến vấn đề chủ quyền” của các học giả Monique Chemillier-Gendreau, TS Nguyễn Hồng Thao, ông Lưu Văn Lợi và tiến sĩ Balazs Szalontai về nội dung công hàm 1958. Nội dung công hàm bao gồm việc nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS.

Học giả Greg Austin[15], trong cuốn China Ocean’s Frontiers, có ý kiến:
Of all the items of evidence presented by the PRC as proof of DRV recognition of Chinese sovereignty over the Paracel Islands, the most conclusive may be the note from the DRV Prime Minister supporting the PRC territorial sea declaration. The note was a government to government communication. And its subject was territorial sovereignty over, inter alia, the Paracel Islands; and the DRV not only raised no objection to the PRC claim but supported it.
Tạm dịch: Trong tất cả các yếu tố do TQ đưa ra làm bằng chứng cho việc VNDCCH đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Quần đảo Hoàng Sa, yếu tố có tính thuyết phục nhứt có thể nói là công hàm của Thủ Tướng VNDCCH ủng hộ tuyên bố về lãnh hải của nước CHND TH. Công hàm này là một văn kiện trao đổi giữa chính phủ với chính phủ. Chủ đề của công hàm là chủ quyền lãnh thổ, trong đó có Quần đảo Hoàng Sa. Nước VNDCCH không những đã không phản kháng tuyên bố chủ quyền của CHND TH mà còn ủng hộ nó.
Nhấn mạnh ở câu: Nước VNDCCH không những đã không phản kháng tuyên bố chủ quyền của CHNDTH mà còn ủng hộ nó.

5. Về hoàn cảnh ra đời công hàm 1958

Hầu như các bài viết của các học giả VN đều vịn vào lý do “chiến tranh”, lý do căng thẳng eo biển Đài Loan ở thời kỳ đó, lý do hai nước VN và TQ là “đồng chí, anh em” trong khối xã hội chủ nghĩa,… để biện hộ cho sự xuất hiện công hàm 1958. TS Nguyễn Hồng Thao, trong sách đã dẫn[16], viết:
La note de Pham Van Dong a pour but de satisfaire une demande de la Chine aux pays du camps socialiste en vue de la soutenir dans sa lutte contre la politique poursuivie par des Américains dans le détroit de Formose, qui menacait la sécurité nationale à l’époque. La note exprimant un engagement plus politique que juridique, une forme courante utilisée par des pays socialistes pour manifester leur solidarité idéologique. Elle a pour objet précis de soutenir les Chinois dans l’application de la largeur des 12 milles marins de la mer teritoriale.
Tạm dịch: Lá thư của Phạm Văn Đồng có mục đích nhằm thỏa mãn việc yêu cầu, nhắm đến các nước trong khối XHCN, nhằm ủng hộ TQ trong cuộc đấu tranh chống lại khuynh hướng chính trị theo đuổi của Hoa Kỳ ở eo biển Đài Loan, thời kỳ đó đã đe dọa an ninh quốc gia nước này. Lá thư biểu lộ một sự liên kết về chính trị hơn là pháp lý, một hình thức thông dụng đã được các nước trong khối XHCN sử dụng để bày tỏ tình đoàn kết ý thức hệ. Lá thư có mục tiêu rõ rệt ủng hộ TQ trong việc áp dụng bề rộng lãnh hải 12 hải lý.
Trang web BBC[17] có tóm lược bài viết của “nhóm phóng viên biển Đông” đăng trên tờ Đại Đoàn Kết, nội dung như sau:
bối cảnh của bản Công hàm 1958 gửi Thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc là thời điểm "có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan”.

Trong bối cảnh đó, bản công hàm được giải thích là "đơn giản chỉ là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp", tức "chỉ là những tuyên bố mang tính chính trị và ngoại giao chứ hoàn toàn không có ý nghĩa pháp lý".
Trên VOA[18], có bài phỏng vấn TS Hoàng Việt:
trước hết là về bối cảnh đưa ra công hàm mà năm 1958 ông Phạm Văn Đồng đã ký. Thứ nhất là lúc đó quan hệ Việt Nam-Trung Quốc vẫn còn như là anh em, vừa là đồng chí vừa là anh em. Năm 1949, Quân Giải phóng Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ của Trung Quốc, sau đó trao trả lại cho Trung Quốc. Thế rồi sang năm 1957 Trung Quốc chiếm lại từ tay một số lực lượng khác đảo Bạch Long Vĩ và sau đó đã trao trả lại cho Việt Nam.

Muốn nói tới câu chuyện đó để làm gì? Đấy là lúc đó hai nước tình cảm rất là chặt chẽ với nhau.
Đã ghi ở trên, ông Đồng giải thích bối cảnh ra đời công hàm: "Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy."
Lời giải thích này đã xóa đi tất cả những lý lẽ “vì hoàn cảnh” mà các học giả đưa ra để cố gắng hóa giải hiệu lực công hàm 1958. Bởi vì ai gây chiến tranh? Dĩ nhiên là phía VNDCCH. Chiến tranh không phải là tình huống bắt buộc. Chỉ cần phía VNDCCH ngưng chiến tranh thì ông Đồng sẽ không phải “nói như vậy”. Tức đã không ký công hàm, đã không nhượng trên giấy tờ chủ quyền HS và TS cho TQ.

Nhà báo Frank Ching[19] nhận xét lời giải thích này như sau:
Vậy thì ai đã tạo ra cuộc chiến Việt Nam và sẵn sàng làm tất cả mọi sự có thể làm được để chiếm miền Nam, ngay cả việc bán đất? Bán đất trong thời chiến và khi cuộc chiến đã chấm dứt, Phạm Văn Đồng lại chối bỏ điều đó bằng cách bịa đặt ra việc đổ thừa cho chiến tranh.
Trong khi bối cảnh thực sự mà tuyên bố của TQ ra đời, theo TS Balazs Szalontai:
BBC:Theo nhận định của ông, lá thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được viết trong hoàn cảnh nào?

Tiến sĩ Balazs Szalontai: Trước tiên, ta nói về tuyên bố của Trung Quốc. Nó ra đời trong bối cảnh có Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1956 và các hiệp định được ký sau đó năm 1958. Lẽ dễ hiểu, Trung Quốc, mặc dù không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc, cũng muốn có tiếng nói về cách giải quyết những vấn đề đó. Vì lẽ đó ta có tuyên bố của Trung Quốc tháng Chín 1958.
Điều này tác giả cũng đã nói ở phần trên, đây mới là bối cảnh đúng đắng về hoàn cảnh ra đời bản tuyên bố của TQ. Sau khi Hội nghị của LHQ về Biển ngày 29-4-1958 thông qua bốn Công ước[20] gồm: Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, Công ước về đại dương, Công ước về đánh bắt và bảo toàn các nguồn sinh vật trong đại dương và Công ước về thềm lục địa. Các quốc gia thuộc LHQ có thể ký nhận các công ước này ở thời điểm giới hạn là 31-10-1958. Vì không phải là một thành viên của LHQ, tuyên bố của TQ là cần thiết để khẳng định những đòi hỏi của nước này về lãnh hải và vùng tiếp cận.

Điều đáng trách là các học giả VN không một người nào nhắc đến Nghị định thư nói về thể thức giải quyết tranh chấp cũng được Hội nghị LHQ thông qua cùng lúc với 4 công ước. Nghị định thư ghi rõ thể thức hòa giải trong các trường hợp có mâu thuẩn quyền lợi giữa các nước trong khi áp dụng các công ước. Dĩ nhiên ta thấy VN và TQ có mâu thuẩn về chủ quyền HS và TS. Tranh chấp này bắt đầu từ năm 1909, phía VNDCCH không thể nói là mình không biết.

Như thế, việc dựa vào các lý do “hoàn cảnh” này kia, tình đồng chí anh em, tình trạng “chiến tranh”… để giảm thiểu hiệu lực công hàm 1958 (theo Khoản 7 của bản Nguyên tắc Hướng dẫn) là điều hoàn toàn không thuyết phục.

“Hoàn cảnh” đúng, là bối cảnh Hội nghị LHQ 1958 về luật Biển, đòi hỏi VN phải có “ý kiến” về tuyên bố của TQ. Nguyên tắc một quốc gia VN duy nhứt buộc các chính phủ ở hai vùng lãnh thổ đều có trách nhiệm như nhau về lãnh thổ. Một vùng lãnh thổ thuộc bên nào quản lý cũng thuộc về quốc gia VN duy nhứt. Thay vì phải ra tuyên bố bảo lưu chủ quyền của mình ở HS và TS, VNDCCH lại ra công hàm công nhận tuyên bố của TQ.

Vịn vào hoàn cảnh “tình trạng chiến tranh”, nhưng bên gây chiến là phía VNDCCH. Chỉ cần bên này ngừng chiến thì công hàm 1958 sẽ không hiện hữu.

Vịn vào lý do “đồng chí anh em” lại càng không thuyết phục. Trên quan điểm quốc tế công pháp, tình “đồng chí anh em” chưa bao giờ được một bên tranh chấp vịn vào để được hưởng trường hợp giảm khinh.

Tác giả dẫn ra thí dụ sau đây, cho thấy một lời nói “qua lại” bình thường giữa hai viên chức quốc gia, xảy ra trong một buổi gặp gỡ không chính thức, nó cũng có giá trị ràng buộc pháp lý. Đó là trường hợp tuyên bố của Bộ trưởng bộ Ngoại giao Na Uy, ông Ihlen[21], về chủ quyền của Đan Mạch ở Groenland ngày 22-7-1919.

Trong dịp gặp gỡ giữa hai thủ tướng hai nước Na Uy và Đan Mạch. Ông bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đan Mạch nói rằng quốc gia Đan Mạch không quan tâm đến vùng lãnh thổ Spitzberg, chính phủ của ông sẽ không phản đối việc Na Uy hành sử chủ quyền ở vùng đất này. Ông nói tiếp rằng quốc gia Đan Mạch mong muốn được mở rộng thẩm quyền về kinh tế và chính trị trên tòan vùng Groenland. Ông hy vọng việc này không bị Hoa Kỳ cũng như Na Uy phản đối.

Trả lời, Thủ tướng Na Uy, ông Ihlen nói rằng: “the Norwegian Government would not make any difficulties in the settlement of this question.”

Tạm dịch: Chính phủ Na Uy sẽ không làm một khó khăn nào trong việc giải quyết vấn đề này.

Đến khi tranh chấp Groenlan giữa Na Uy và Đan Mạch được đưa ra Tòa Án Công lý Quốc tế (CIJ) phân giải thì “lời nói” của ông Ihlen được tòa nhìn nhận là một “tuyên bố đơn phương”, có hiệu lực ràng buộc pháp lý. Tuyên bố này nổi tiếng, trở thành một trường hợp nghiên cứu cho Luật quốc tế, được đặt tên là “Tuyên bố Ihlen”.

Tuyên bố Ihlen có thể so sánh với trường hợp “lời nói” của ông Ung Văn Khiêm, thứ trưởng bộ Ngoại giao VNDCCH, nhân dịp gặp gỡ các viên chức ngoại giao TQ năm 1956. Ông Ung Văn Khiêm có tuyên bố với Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam như sau: chiếu theo tài liệu VN thì HS và TS thuộc về TQ. Ông Lê Lộc, Chủ Tịch Châu Á Sự Vụ, nhân có mặt cũng nói vào: Theo sử liệu VN thì HS và TS thuộc TQ từ thời nhà Tống. Sự việc này tạp chí Beijing Review ngày 18 tháng Hai năm 1980 đã có đăng lại trong bài “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa.”

6. Biết địch biết ta

Trăm trận trăm thắng. Tuy nhiên, phía VN hình như rất dị ứng khi có người nhắc đến công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Những người nào bàn luận đến chủ đề này đều bị chụp mũ nếu không là Việt gian thì cũng là “Tàu”. Nhưng quyền lợi của đất nước cao hơn tự ái, danh vọng và quyền lợi cá nhân. Vấn đề công hàm 1958 là chuyện “của ta”. Chuyện của mình thì mình phải bàn luận tới.

Khi viết gần xong bài này thì đọc được “Thư ngỏ của các nhân sĩ, trí thức gửi Quốc hội, Lãnh đạo Nhà nước và Đảng CSVN”. Thư ngỏ có đoạn:
Nhà nước ta cần chủ động giải thích trước toàn dân và dư luận thế giới bối cảnh ra đời, nội dung thực chất và giá trị pháp lý của công hàm mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958 về Biển Đông, để bác bỏ dứt khoát mọi xuyên tạc từ phía Trung Quốc.
Đã viết ở trên, công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là một văn bản thuộc phạm trù quốc tế chứ không phải là một văn bản hành chánh thuộc phạm trù quốc gia. Nhà nước có thể giải thích nội dung văn bản này theo ý của mình, nhằm xoa dịu dư luận người dân, như khuyến cáo của nhóm “nhân sĩ, trí thức” tác giả của thư ngỏ. Nhưng đây chỉ là một “liều thuốc an thần” như nhiều liều thuốc an thần khác trong quá khứ mà nhiều học giả khác đã hướng dẫn cho lãnh đạo CSVN. Nó không có ảnh hưởng gì đến hiệu lực của văn bản này trước luật lệ quốc tế. Trường hợp của nhà nước Colombia về chủ quyền quần đảo Los Monjes là một thí dụ để mọi người nghiên cứu.

Chính phủ Hoa Kỳ ngày 3 tháng 8 vừa qua ra thông cáo báo chí[22] về biển Đông, trong đó có đoạn đề cập đến khả năng giải quyết tranh chấp bằng một trọng tài hay bằng một định chế pháp lý quốc tế:
We believe that claimants should explore every diplomatic or other peaceful avenue for resolution, including the use of arbitration or other international legal mechanisms as needed.
Các bản tiếng Việt thông cáo này đăng tải trong nước đều không dịch đoạn dẫn trên. Thái độ im lặng từ nhiều thập niên nay của nhà nước CSVN về khả năng giải quyết tranh chấp với TQ bằng một trọng tài quốc tế cho ta biết lập trường của VN: không giải quyết bằng trọng tài quốc tế. Nguyên nhân ra sao độc giả tự đoán.

Đề nghị của Hoa Kỳ là một cơ hội mà VN cần nắm lấy. Quyết định nắm lấy hay không thuộc về lãnh đạo CSVN nhưng cũng do khuyến cáo, áp lực của người dân trong nước, mà thành phần trí thức là tiêu biểu đi đầu.

Thất vọng biết bao nhiêu, không có một dòng nào trong thư ngỏ đề nghị giải quyết tranh chấp bằng một trọng tài quốc tế:
chúng ta kiên trì giải quyết tranh chấp với Trung Quốc bằng phương pháp hòa bình, tuân theo luật pháp quốc tế. Chúng ta tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia khác ven Biển Đông, cùng nhau thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển, đặc biệt là đối với các đảo, bãi đá cùng với lãnh hải bao quanh theo đúng Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển.
Rõ ràng đây là việc “copy – paste” từ văn bản của nhà nước CSVN. Nếu không nói quá, đó cũng là luận điệu của phía TQ. Phía nào cũng nói giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình, theo luật quốc tế, theo công ước LHQ về Biển…
Các bên nói cùng một luận điệu nhưng nền tảng lý lẽ mỗi bên mỗi khác. VN nói mình có chủ quyền ở HS và TS. TQ cũng nói y như vậy. Ai cũng khoanh vùng biển (theo qui định của Luật quốc tế về Biển) theo cách diễn giải của mình. Vấn đề cốt lõi là: nước nào có chủ quyền ở các đảo nào? Đề nghị của Hoa Kỳ đúng là một cái phao cho các nước nhỏ như VN nắm lấy. Vì TQ là bên có sức mạnh, họ có lý lẽ của họ, họ có thể dùng vũ lực để áp đặt ý muốn của họ cho các nước tranh chấp.

VN không có con đường nào khác là phải đưa ra một trọng tài quốc tế để phân xử. Đây là con đường mà VN có nhiều hy vọng nhứt để thắng, nếu biết cách hóa giải những ràng buộc pháp lý những hứa hẹn trước đây đã cam kết với TQ. Tôi đã đề nghị một giải pháp “kế thừa danh nghĩa VNCH” để hóa giải các hứa hẹn này trong các bài trước[23].

Vấn đề bảo vệ đất nước, nếu đi theo phương pháp này, đơn giản trở thành việc dân chủ hóa VN. Có bạn phàn nàn tôi vì sao cứ viết chủ quyền biển đảo mà không tranh đấu cho nhân quyền. Thực ra mục tiêu chính của đề nghị giải quyết chủ quyền biển, đảo của tôi cốt lõi là vấn đề “nhân quyền”. Dân chủ thực ra chỉ là cách nói khác của nhân quyền.

Nếu “án binh bất động” và tiếp tục “uống thuốc an thần” của các học giả “bốc” cho, VN chắc chắn sẽ bước vào xung đột vũ trang với TQ. Xương máu VN đã đổ quá nhiều cho lý thuyết không tưởng, cho những sự bịp bợm, cho những huyền thoại láo khóet trong quá khứ. Nhân dân VN không thể đổ máu thêm lần này nữa, nói là “giữ nước”, nhưng thực ra để giữ “thể diện” cho đảng CSVN. Giữ nước có nhiều cách để giữ, không tốn xương máu, chỉ cần trí tuệ và lòng can đảm.



Nguồn: Về một số ý kiến tiêu biểu của các học giả trong, ngoài nước về nội dung và hiệu lực ràng buộc của công hàm 1958. Trương Nhân Tuấn. Aug 10, 2012.
[1] http://www.talawas.org/?p=10228
[2] Texte adopté par la Commission du droit international à sa cinquante-huitième session, en 2006, et soumis à l’Assemblée générale dans le cadre de son rapport sur les travaux de ladite session (A/61/10). Le rapport, qui contient également des commentaires sur le projet d’articles, sera reproduit dans l’Annuaire de la Commission du droit international, 2006, vol. II(2).
[3] Nguyễn Hồng Thao, “Le Vietnam et ses différends maritimes dans la mer de Biển Đông”, Edition A. Pedone, ISBN 2-233-00451-5, trang 251.
[4] Xem ghi chú 2.
[5] Souveraineté sur Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks et South Ledge (Malaisie/Singapore),arrêt, C.I.J. Recueil 2008, p. 12. ISSN 0074-4441 ; ISBN 978-92-1-071046-6
[6] Nguồn: xem ghi chú 5.
[7] Monique Chemillier-Gendreau – La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys – NXB Harmattan 1996, page 122-123.
[8] Xem ghi chú 3. Trang 250.
[9] Xem ghi chú 1.
[10] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/01/080124_vietnamchinaphamvandong.shtml
[11] Nguồn: http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/frankching.htm
[12] Xem thêm bài viết của cùng tác giả: “Nhân nói chuyện về hiệu lực pháp lý của các bản đồ” http://blog.yahoo.com/_I66R5T4RFJ5LH5KE4IOX6IW264/articles/990463/index
[13] Xem ghi chú 7.
[14] Xem thêm bài “Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa: Thử bàn về tính liên tục và sự kế thừa giữa các “quốc gia” Việt Nam sau năm 1945” của cùng tác giả. http://blog.yahoo.com/_I66R5T4RFJ5LH5KE4IOX6IW264/articles/868663/index
[15] Đoạn trích dẫn này do ông Trúc Lê đưa lên trên Net.
[16] Xem ghi chú 3, trang 250.
[17] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/07/110720_daidoanket_article.shtml
[18] http://www.voatiengviet.com/content/south-china-sea-dispute-07-08-11-125223929/906357.html
[19] Xem ghi chú 9.
[20] http://treaties.un.org/doc/Treaties/1964/11/19641122%2002-14%20AM/Ch_XXI_01_2_3_4_5p.pdf
[21] Nguồn: Nations Unies A/CN.4/557. Commission du droit international. Cinquante-septième session. Huitième rapport sur les actes unilatéraux de l’État. Par Mr Víctor Rodríguez Cedeño, Rapporteur spécial.
[22] http://www.state.gov/r/pa/prs/ps/2012/08/196022.htm
[23] Xem bài “Việt Nam cần điều chỉnh lại chiến lược biển Đông” của cùng tác giả.http://blog.yahoo.com/_I66R5T4RFJ5LH5KE4IOX6IW264/articles/235392

Read more…